Chân dung kẻ tiên phong
Phạm Chuyên sinh năm 1922 ở xã Tiền An, huyện Yên Hưng, tỉnh Hồng Quảng, nay là Quảng Ninh. Thời Pháp thuộc, Chuyên đi lính khố xanh và được cử vào Sài Gòn học điện báo. Sau Cách mạng tháng Tám, Chuyên tham gia cách mạng, được kết nạp vào Đảng và có một thời gian làm việc ở Ty Công an Quảng Yên. Tháng 6/1947, Chuyên bị Pháp bắt. Tháng 10/1947, sau khi được thả, Chuyên ra làm thư ký “Hội đồng an dân”, một cơ quan do Pháp dựng lên, ở thị xã Hồng Gai. Tháng 5/1948, Chuyên bỏ về quê, sau đó chạy vào căn cứ địa cách mạng ở huyện Hoành Bồ, được kết nạp Đảng lại và công tác ở huyện Yên Hưng. Cuối năm 1948, Chuyên được phân công phụ trách 3 xã ở huyện Yên Hưng. Đầu năm 1949, điều về làm ở Ban thi đua tỉnh; đầu năm 1950 chuyển sang làm ở Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Yên. Năm 1953, khi được cử đi học trường Đảng, Chuyên vi phạm quy định, bỏ vào vùng địch nên lại bị khai trừ Đảng. Sau hòa bình, dù được bố trí công tác trong một cơ quan, nhưng cuối năm 1957, Chuyên bất mãn, kết hợp với việc ông bố tự tử trong cải cách ruộng đất vì bị quy sai thành phần nên bỏ cơ quan về và gọi cả em trai là Phạm Ốc, lúc đó đang học y sĩ bỏ học về nhà.
Ngày 25/6/1959, sau khi được Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng cho về viết kiểm thảo, Phạm Chuyên quyết định bỏ trốn. Ban đầu Chuyên lên Hà Nội rồi mua vé xe khách đi vào Vinh. Từ Vinh, Chuyên đi theo đường số 8 lên biên giới rồi vượt biên sang Lào. Tại Lào, Chuyên được đưa về Savanakhet để thẩm vấn. Sau 9 tháng ở Lào và qua nhiều vòng thẩm vấn, Chuyên được đưa về trung tâm tiếp đón những người vượt tuyến ở Sài Gòn bằng máy bay quân sự.
“Trung tâm đón tiếp đồng bào vượt tuyến” ở đường Nguyễn Văn Học - Gia Định thực chất là nơi thẩm vấn những người vượt tuyến, vượt biên hoặc hồi hương từ Thái Lan để tuyển lựa nhận sự cho kế hoạch đào tạo gián điệp của Sở Nghiên cứu chính trị do trùm mật vụ Trần Kim Tuyến chỉ huy.
Một tháng sau khi về trung tâm, qua các vòng tự khai lý lịch, một nhân viên của Sở Thông tin đô thành đến gặp Chuyên để mời tham gia đi nói chuyện ở các cơ quan về cuộc sống của người dân miền Bắc, hoặc tham gia với tư cách là “nhân chứng” ở miền Bắc mới vào.
Một thời gian sau, một sĩ quan quân đội giới thiệu tên là Phan (tức Trung úy Đỗ Bá Tiên (biệt danh Francois, nhân viên Liên đoàn 77) đến gặp Chuyên và mời tham gia nhiệm vụ đặc biệt. Lần này, Phan đưa Chuyên đến một khách sạn ở Bến Sài Gòn và gặp Edward Reagan, nhân viên CIA. Tại cuộc gặp này, sau khi được thuyết phục, Chuyên đồng ý tham gia nhiệm vụ ngầm quay trở lại miền Bắc với tên gọi Nguyễn Bảo Thùy.
Đầu tháng 10/1960, Chuyên được đưa đến một căn phòng trên tầng 5 ngôi nhà số 13 đường Kỳ Đồng. Tại đây, Phan thông báo Chuyên được tuyển dụng và sẽ phải trải qua một khóa đào tạo. Thời gian học, mỗi tháng Chuyên được hưởng lương 3.000 đồng tiền miền Nam. Sau thời gian học, lương sẽ tăng lên 5.000 đồng/ tháng.
Phan bắt đầu công việc huấn luyện Chuyên bằng cách đưa cho một tập tài liệu về phương pháp công tác và yêu cầu đọc kỹ, sau đó thảo luận. Nội dung tài liệu này là hướng dẫn các phương pháp hoạt động gián điệp gồm: công tác bí mật; hướng phát triển cơ sở; tuyên truyền - điều tra - phân tích, phân loại; lãnh đạo đấu tranh; liên lạc báo cáo...
Sau này, trong hồi ký của mình, Phạm Chuyên kể lại quá trình huấn luyện như sau:
“Phan đưa cho tôi một tập tài liệu, vừa in máy vừa in roneo, bảo: “Anh đọc đi, có gì tôi cùng anh trao đổi thêm”. Ba ngày sau, Phan trở lại, hỏi tôi: “Anh đọc xong chưa? Thấy thế nào?”. Tôi cười: “Tưởng trời đất gì, những thứ này tôi học thuộc lòng từ ngày tham gia “Việt Minh bí mật” rồi. Có khác là mấy tiếng “vỏ bọc”, “ngăn cách”…
- “Biết vậy, nhưng vẫn phải đưa anh đọc”, Phan nói. “Đầu tuần sau tôi tới. Có thể anh sẽ chuyển sang học “truyền tin”.
Đúng hẹn, Phan đến, đưa theo một người, được giới thiệu tên Tý. Tý người nhỏ nhắn, trắng trẻo, nói giọng miền Nam, mũi nhọn, tựa lai Âu. Tý phụ trách việc huấn luyện truyền tin. “Đồ nghề” gồm một máy chạy những cuốn băng giấy, phát ra những tiếng “tạch, tè” có thể điều chỉnh nhanh chậm, to nhỏ. Tý hướng dẫn cho tôi cách sử dụng máy. Từ hôm ấy, Phan ít đến, chỉ có Tý, vài ba ngày đến một lần hỏi xem “tốc độ” thu, phát của tôi tiến triển thế nào.
Sau một tuần làm liên lạc, thấy có thể đã “thuần thục”, tôi đề nghị cho thực tập làm liên lạc đường dài. Đề nghị của tôi được chấp thuận. Liên tiếp nửa tháng sau, ngày hai buổi, tôi làm liên lạc với một đài ở Tây Nguyên.
Gần Tết Nguyên đán năm 1961, việc huấn luyện cơ bản hoàn tất. Phan hỏi yêu cầu của tôi. Trước hết cần người lái thuyền thuộc đường khu vực vịnh Hạ Long. Ngoài ra, cần một thuyền nan kiểu miền Bắc để đổ bộ vào đất liền. Đồ đạc cần có hai bộ điện đài, lương thực khoảng 1 tháng đầu, thuốc men, tiền mặt - tiền miền Bắc, không được dùng tiền giả. Trang bị vũ khí cho thuyền và cá nhân tôi.
Việc trang bị vũ khí cho thuyền, Phan không đồng ý: “Việc xâm nhập của ta phải hết sức tránh đụng độ với Việt cộng. Không may bị lộ, bị bắt còn hơn là bị tiêu diệt. Anh nghĩ mà xem, nếu gặp tàu địch chỉ một băng trung liên là thuyền chìm ngay. Thuyền mình không đủ tốc độ để chạy khi bị tàu tuần tiễu đuổi...”. Nghe có lý, tôi đành nghe theo ý của Phan, nhưng yêu cầu cho một liều thuốc ngủ cực mạnh để sử dụng khi cần thiết.
“Không được”, Phan gạt ngay. “Anh không thể chết. Chắc thượng cấp cũng không chấp thuận ý này đâu. Nếu bị bắt, anh tìm mọi cách tin cho chúng tôi. Anh phải sống”.
***
Giữa tháng 1/1961, Chuyên được chuyển đến một ngôi nhà ở đường Nguyễn Biểu để thực tập. Thời kỳ đầu tập liên lạc với Đài P8M ở ngay Sài Gòn, sau đó chuyển sang liên lạc với một đài ở xa hơn. Sau gần một tháng thực tập, khi đã thành thục, Chuyên phải trải qua một cuộc kiểm tra. Kết thúc khóa học này, tên đài của Chuyên được trung tâm đặt là ARES; bí danh của Chuyên là "Hạ Long". Khi liên lạc, trung tâm sẽ xưng hô là "Tổng bộ".
Phan hướng dẫn Chuyên trong trường hợp không liên lạc được qua điện đài thì sẽ dùng thư, bưu thiếp để báo cáo tình hình. Tất cả thư, bưu thiếp đều dùng danh nghĩa hai em trai của Chuyên là Phạm Ốc và Phạm Đắc gửi cho Chuyên qua một người khác làm trạm trung gian. Bưu thiếp sẽ gửi tới 2 địa chỉ: Phạm Kỷ, số 186 ấp Tây 3, xã Phú Nhuận, quận Tân Bình - Gia Định và Phạm Thị My, học sinh đệ nhất Trường Lê Quý Đôn, số 216 Phan Đình Phùng - Sài Gòn. Thư chỉ gửi cho bà Kraemer Jean ở Pháp.
Giữa tháng 2/1961, Phan quay lại gặp Chuyên để tiếp tục huấn luyện về chính trị. Kết thúc khóa học, Phan đưa Chuyên ra Nha Trang nghỉ mát nửa tháng. Trong nửa tháng ở Nha Trang, Phan tiếp tục đưa bản kế hoạch công tác khi trở ra Bắc của Chuyên viết trước đó để thảo luận, đặc biệt là cách nói dối thế nào cho hợp lý nếu ra Bắc mà bị bắt và Công an miền Bắc không thu được tài liệu. Cả hai thống nhất trong hoàn cảnh này Chuyên sẽ khai do vào Nam không được thu dung vì bị nghi vấn nên quyết định vượt tuyến quay về đầu thú, chưa kịp ra trình diện thì đã bị bắt. Phan cũng yêu cầu trong mọi hoàn cảnh, Chuyên không được nhận là "cán bộ chính trị miền Nam cử ra Bắc" vì như vậy sẽ là vi phạm Hiệp định Geneve.
Nhiệm vụ của Chuyên khi trở lại miền Bắc là tổ chức cơ sở quần chúng; tổ chức một khu căn cứ chuẩn bị cho hoạt động vũ trang; tổ chức cơ sở vùng biên để làm cơ sở đón tiếp tế về người, vũ khí, hàng hóa lương thực từ miền Nam ra; cập nhật và báo cáo tin tức về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế ở vùng hoạt động.
Phan yêu cầu Chuyên khi gây dựng lực lượng, ngoài dân chài còn phải chú ý lôi kéo cán bộ xã, đoàn viên thanh niên. Khi đã có lực lượng, giai đoạn đầu tùy theo tình hình phát triển của cơ sở, hướng dẫn người dân tham gia đấu tranh hợp pháp với những bất hợp lý trong việc thực hiện chính sách dân công, hợp tác xã… Việc chuyển hình thức đấu tranh tùy theo sự phát triển của cơ sở và theo sự chỉ đạo từ trung tâm, không được tự động làm khi chưa có lệnh.
Tháng 3/1961, Phan đưa Chuyên ra Đà Nẵng nhận tàu. Tuy nhiên, chuyến đầu mới được nửa hành trình thì tàu hỏng máy, phải quay lại Đà Nẵng sửa chữa.
Ngày 5/4/1961, lần thứ 2, chiếc tàu chở Phạm Chuyên xuất phát ra Bắc. Sau hành trình 2 đêm, 1 ngày, tàu ra đến Vịnh Hạ Long và neo lại ngoài xa. Chờ trời tối hẳn, Chuyên lệnh cho thuyền vào bờ. Đến phía Đông hang Đầu Gỗ, thủy thủ cho thuyền thả neo đậu dưới chân một núi đá cao nhất, chuyển đồ đạc lên mui thuyền, lấy xuồng cao su ra bơm. Đồ đạc được chuyển xuống thuyền nan, buộc sau xuồng máy. Chuyên ngồi trên thuyền nan. Hai thủy thủ là Hạ và Đức ngồi trên xuồng máy, kéo thuyền nan...
Kéo thuyền nan vào đến Ghềnh Si, xuồng máy trở ra. Trên thuyền nan, Chuyên lấy cơm nắm ra ăn, phác họa trong đầu kế hoạnh “đổ bộ” vào đất liền. Thủy triều đã xuống thấp, Chuyên kéo thuyền vào lạch nhỏ chân Núi Đất, tìm một tảng đá to, nằm ngả lưng chờ sáng.
Mờ sáng, Chuyên chuyển các hòm đồ ra khỏi thuyền, trát bùn loang lổ, ấn sâu xuống bùn, kéo thuyền giấu vào ngọn lạch nhỏ. Mặc bộ quần áo màu gụ đã cũ, tay cầm cần câu, vai đeo cái giỏ nhỏ, Chuyên đóng vai người câu cá bống trốn trong rừng sú. Tối 8/4, sau một ngày trong rừng, Chuyên lại lôi các hòm đồ lên rửa sạch bùn, lau khô cho xuống thuyền, chờ đêm xuống cho thuyền vào bến Minh Đang (Tiền An). Chuyển đồ đạc lên bãi cát, Chuyên đào hố chôn kề sát với bờ ruộng của gia đình để dễ nhận biết. Chôn đồ xong, Chuyên kéo thuyền ra xa để khi thủy triều xuống, gió mạnh thuyền sẽ dạt ra xa. Nhưng gió to, thuyền lại dạt vào bờ, chúc mũi thuyền vào cửa cống, không lôi ra được…
Sau khi chôn giấu máy truyền tin, Chuyên trốn về nằm ở trong vườn nhà mình nhưng không dám vào nhà vì sợ em dâu là vợ Phạm Ốc, và vợ con mình biết sẽ bị lộ. Sáng hôm sau, khi thấy Ốc đi làm, Chuyên mới gọi Ốc. Tối hôm đó, Chuyên gặp mẹ và hai em trai là Ốc và Đắc.
Trong thời gian ấy, Chuyên 3 lần lấy máy ra liên lạc về trung tâm. Nhưng vì chậm so với giờ lên máy đã quy ước với trung tâm nên đều không được. Chuyên viết thư và bưu thiếp sau đó để Phạm Ốc chép lại có nội dung mật báo gửi vào 3 địa chỉ đã quy ước từ trước với Phan.
Ngày 27/4/1961, lần thứ 4 lên máy, Phạm Chuyên mới liên lạc được với trung tâm, báo cáo đã về tới nơi nhưng căn cứ bị động nên còn ở La Khê. Sau đó, cách vài ngày, Chuyên lại lên máy liên lạc với trung tâm. Cùng với báo cáo tình hình vào Nam, Chuyên bắt đầu tuyển người, ngoài 2 em ruột, một em họ, Chuyên chú ý tới những người bạn và một số cán bộ cùng công tác trước kia có tư tưởng bất mãn. Chuyên dự định tổ chức cơ sở vùng Ghềnh Si, lập ban đón tiếp, chuẩn bị nhận tiếp tế chuyến đầu tiên vào cuối tháng 5/1961.
Với các ngư dân, Chuyên có ý định dùng gạo để mua chuộc và xây dựng lực lượng. Khi trung tâm chuyển tiền ra sẽ tổ chức thuyền đánh cá để có thể nhận tiếp tế từ ngoài xa ở Hạ Long hay Cát Bà, để tàu tiếp tế không phải vào quá sâu, sẽ nguy hiểm; lựa chọn người để cuối tháng 10/1961 sẽ gửi vào Nam học vô tuyến điện, sau đó ra làm nhiệm vụ liên lạc điện đài để Chuyên tập trung vào việc tổ chức, gây dựng lực lượng…
Có lẽ khi đó Phạm Chuyên không thể ngờ mình trở thành kẻ tiên phong trong cuộc chiến ngầm.
Chuyên án BK63
Sáng ngày 9/4/1961, ông Ngột, một ngư dân ở thôn La Khê, xã Tiền An cùng một bạn chài từ trong làng ra bến thuyền để đi biển. Nhưng khi qua đầm Thùa (thôn La Khê), hai người bất ngờ thấy có một chiếc thuyền nan có kiểu dáng lạ, không giống như của ngư dân vùng Hồng Quảng đang sử dụng.
Hai người đến xem thì thấy trong thuyền có hai chiếc bơi chèo, một chiếc giỏ đan bằng mây để đựng cá, một cần câu, một ống câu. Thấy những vật này bỏ trong chiếc thuyền vô chủ, ông Ngột đã lấy mang về nhà, còn chiếc thuyền thì mang để ở bến thuyền với ý định sẽ dùng chung. Nhưng sáng hôm sau, khi ra bến thì không thấy chiếc thuyền đâu nữa.
Sau khi nhận tin báo về chiếc thuyền lạ ở đầm Thùa, Công an huyện Yên Hưng cử cán bộ đi xác minh và tìm thấy chiếc thuyền này ở một xã khác cách xã Tiền An 2km. Người chủ trình bày rằng mua lại của một gia đình thuyền chài.
Mấy hôm sau, anh Phạm Văn Hán, ở xã Tiền An báo với Công an xã rằng mẹ anh là bà Trới, chiều ngày 9/4 khi lên núi Đầm Thùa lấy củi thì bất ngờ thấy ở gần nhà Phạm Ốc có một người đàn ông lạ ngồi trong bụi rậm, xung quanh có rất nhiều quần áo. Khi thấy bà, người này úp mặt trên đầu gối như che mặt rồi gừ lên một tiếng nghe sởn tóc gáy, tưởng ma, bà vứt cả dao lẫn củi bỏ chạy về nhà.
Khi cán bộ Công an đến gặp bà Trới để hỏi chuyện này thì bà nói rằng không có gì cả, người ngồi trong bụi rậm hôm ấy là Phạm Ốc, hôm đó đi lấy dây rừng về buộc chuồng lợn, thấy bà đi một mình nên định trêu bà. Sau đó Ốc đã đến nhà xin lỗi vì làm bà sợ.
Sở dĩ người dân luôn cảnh giác trước mọi dấu hiệu lạ ở nơi sinh sống bởi từ tháng 8/1954, Trung ương Đảng đã có chỉ thị nêu rõ Mỹ - Diệm sẽ sử dụng gián điệp biệt kích đánh ra miền Bắc để phá hoại công cuộc tái thiết đất nước. Trung ương yêu cầu chính quyền các cấp tuyên truyền nhân dân không ngừng nâng cao cảnh giác, tăng cường phòng gian bảo mật; đẩy mạnh và kịp thời trấn áp mọi hoạt động phá hoại hiện hành của bọn gián điệp và phần tử phản cách mạng. Chính vì thế, từng người dân luôn có ý thức cao trong việc phòng gian, bảo mật…
Xâu chuỗi toàn bộ thông tin, Công an huyện Yên Hưng đặt một nghi vấn, bởi Phạm Ốc có người anh ruột là Phạm Chuyên, một phần tử chống đối ở địa phương nhưng hai năm trước đã bỏ trốn đi Nam.
Công an Hồng Quảng cũng xác minh và báo cáo Bộ Công an. Sau khi nhận được chỉ thị của Bộ, Công an Hồng Quảng cử trinh sát triển khai rà soát tất cả các mối quan hệ của gia đình Phạm Chuyên. Chỉ sau nửa tháng nắm tình hình, nguồn tin của cơ sở cho biết có rất nhiều điều bất thường trong sinh hoạt của gia đình Chuyên khi hai em Chuyên là Phạm Đắc, Phạm Ốc có những hoạt động không bình thường. Từ những thông tin này, cơ quan Công an khẳng định Phạm Chuyên đã trở về.
Đêm 6/6/1961, các trinh sát bắt Phạm Đắc khi đang trên đường đi tiếp tế cho Phạm Chuyên và thu một máy phát tin, lương thực. Sau khi Đắc bị bắt, các trinh sát vẫn tiếp tục giám sát gia đình Phạm Chuyên. Nguồn tin cơ sở cho biết sau khi biết em bị bắt, Chuyên đã bỏ trốn lên núi, nhưng vẫn lén về nhà lấy lương thực. Một kế hoạch vây bắt được vạch ra, vừa huy động lực lượng bao vây để Chuyên không có cơ hội bỏ trốn, nhưng sẽ vận động gia đình khuyên Chuyên đầu thú, vừa giám sát chặt để có thể bắt giữ Chuyên ngay tại nhà.
Trưa ngày 17/6/1961, nhận được tin Chuyên đang trốn trong nhà và thủ sẵn vũ khí trong người, trinh sát Đỗ Hội, cán bộ Phòng Bảo vệ Chính trị, báo cáo Giám đốc Công an Hồng Quảng Nguyễn Minh. 14 giờ chiều, khi lực lượng vây bắt do Giám đốc Nguyễn Minh chỉ huy đã khép chặt ngôi nhà, trinh sát Phòng Bảo vệ Chính trị vào nói chuyện với bà mẹ Chuyên. Đề phòng Chuyên sẽ manh động chống đối quyết liệt, sau khi đưa bà mẹ Chuyên ra khỏi nhà, hai trinh sát vào buồng bắt giữ Chuyên đang nấp trong cót thóc, trong tay là khẩu súng ngắn.
Khám nhà, Công an thu được 19 bộ lốc mã giấu trong cót thóc. Đấu tranh mở rộng, cơ quan Công an thu được toàn bộ điện đài vô tuyến điện gồm một máy thu, một máy phát và một máy phát điện quay tay.
Là người có trình độ, từng tham gia công tác trong cơ quan chính quyền, lại được CIA đào tạo bài bản nên những ngày đầu bị bắt, Phạm Chuyên giở nhiều thủ đoạn để đối phó với cán bộ điều tra. Nhận báo cáo của Công an Hồng Quảng, Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị Nguyễn Tài, người rất nhiều kinh nghiệm đấu tranh với gián điệp biệt kích, trực tiếp xuống Hồng Quảng hỏi cung Phạm Chuyên.
Sau những cuộc trò chuyện với Phạm Chuyên, Cục trưởng Nguyễn Tài nhận ra Phạm Chuyên rất thương mẹ, thương em, vì vậy cùng với việc thuyết phục Phạm Chuyên, Cục trưởng Nguyễn Tài cũng chỉ đạo phải làm tốt chính sách với gia đình Phạm Chuyên. Vì vậy sau hơn một tháng bị bắt, thấy Công an đối xử với mình và người nhà, nhất là bà mẹ rất chu đáo, Phạm Chuyên đã xin khai lại toàn bộ và cả nơi cất giấu bộ điện đài thứ hai cùng tài liệu giấu ở trong hang trên núi Đá Chồng.
Sau này, trong hồi ký, Phạm Chuyên cũng nhắc lại việc tâm phục khẩu phục cán bộ Công an rằng: “Ròng rã gần một tháng, ngoài hai bữa ăn và nghỉ trưa, khi cán bộ trực tiếp hỏi, khi tôi tự viết bản khai. Tôi khai hết, rất rõ ràng, tỉ mỉ, không giấu diếm, trừ một “ám hiệu” an ninh trong truyền tin, tôi tin rằng cơ quan Công an không thể biết, tôi không tiết lộ (...). Và rồi, từ chính sách của cơ quan với gia đình và bản thân tôi, làm tôi suy nghĩ, hối hận. Qua mấy ngày đêm ăn không ngon, ngủ không yên, tôi quyết định khai hết những bí mật còn giữ kín. Tôi quyết định lập công, làm lại cuộc đời. Lần cuối cùng gặp cán bộ, tôi báo cáo hết những điều còn giấu kín và được hoan nghênh”.
Sau gần 2 tháng đấu tranh, Phạm Chuyên đã khai hết kế hoạch mà CIA giao cho khi xâm nhập ra Bắc. Khi đánh giá lại toàn bộ quá trình bắt, đấu tranh với Phạm Chuyên, Cục Bảo vệ Chính trị và Công an Hồng Quảng xác định tất cả vẫn đảm bảo bí mật. Một kế hoạch nghiệp vụ được gửi lên Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, đề nghị lập Chuyên án mang bí số BK63 đấu tranh với CIA với mục đích duy trì chuyên án hoạt động lâu dài nhằm khống chế được hoạt động của địch đối với địa bàn khu vực Đông Bắc; phát hiện toàn bộ âm mưu và thủ đoạn hoạt động gián điệp biệt kích đối với miền Bắc, tạo điều kiện để chủ động tấn công lại địch. Tổ chức câu nhử, đón bắt những nhóm gián điệp khác nhằm khai thác triệt để các trung tâm gián điệp biệt kích của địch; tính toán khả năng phái khiển người vào tổ chức của địch khi cần thiết.
Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đồng ý và yêu cầu trong quá trình thực hiện chuyên án phải đảm bảo nguyên tắc “tích cực bảo vệ mình, chủ động tiêu diệt địch” với phương châm "không để thiệt hại cho ta, chỉ được lợi cho ta".
Bắt đầu từ đây, một chuyên án mở ra và không ai nghĩ kéo dài tới 10 năm.
(Còn nữa)