Cuộc đời truân chuyên của nghệ sĩ Năm Sa Đéc

Là người mê hát bội, nên không chỉ lập đoàn "Thiện Tiền Ban" vào năm 1915, ông Cả Tam còn lấy tên của nghệ sĩ hát bội nổi tiếng đương thời là Kim Chung ở Mỹ Tho (Tiền Giang) để đặt tên cho cô con gái rượu của mình. Đúng như mong đợi của người cha, càng lớn cô Kim Chung càng đẹp và đặc biệt là có tình yêu ca hát mãnh liệt...

Năm Sa Đéc là nghệ danh của bà Nguyễn Kim Chung (1907-1988), ngôi sao sáng trên bầu trời nghệ thuật biểu diễn Nam Bộ. Ngoài kỹ năng đa dạng, xuất sắc trên nhiều lĩnh vực, như: hát bội, cải lương, kịch nói, phim ảnh... bà còn là vợ của cây bút sưu khảo nổi tiếng và tay chơi đồ cổ ngoại hạng: Vương Hồng Sển (1904- 1996). Do nhiều lý do, những bài viết về chân dung của nữ nghệ sĩ này thường có khoảng cách với cuộc đời thật. Với chúng tôi, muốn khắc họa một chân dung gần với con người thật của bà quả là điều không đơn giản.

Nghệ danh còn là nỗi đau

Theo nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan (Sa Đéc- Đồng Tháp), bà tên thật Nguyễn Kim Chung, là con thứ 5 của ông Nguyễn Duy Tam, tức Cả Tam ở làng Tân Đông, tổng An Thanh Hạ, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc, nay là xã Tân Khánh Đông, TP Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Là người mê hát bội, nên không chỉ lập đoàn "Thiện Tiền Ban" vào năm 1915, ông Cả Tam còn lấy tên của nghệ sĩ hát bội nổi tiếng đương thời là Kim Chung ở Mỹ Tho (Tiền Giang) để đặt tên cho cô con gái rượu của mình. Đúng như mong đợi của người cha, càng lớn cô Kim Chung càng đẹp và đặc biệt là có tình yêu ca hát mãnh liệt.

Năm 1928, nữ nghệ sĩ Kim Chung đã gia nhập làng hát bội dưới nghệ danh Năm Nhỏ. Với giọng hát thiên phú và lối diễn xuất lột tả được nội tâm, Năm Nhỏ nhanh chóng trở thành ngôi sao qua các vai: Đào Tam Xuân trong tuồng "Đào Tam Xuân"; Lữ Phụng Tiên trong tuồng "Phụng Nghi Đình", Hồ Nguyệt Cô trong tuồng "Tiết Giao đoạt ngọc"… và nhanh chóng được giới hâm mộ xếp vào hàng "ngũ châu" (năm gương mặt tiêu biểu của nghệ thuật hát bội) đương thời gồm: Năm Đồ, Cao Long Ngà, Ba Út và hai nữ nghệ sĩ cùng nghệ danh Năm Nhỏ. Vì nghệ sĩ Năm Nhỏ kia là dâu của một ông bầu đoàn hát nên nữ nghệ sĩ đất Sa Đéc đành phải chuyển sang chọn nghệ danh mới: Năm Sa Đéc.

Chân dung cố nghệ sĩ Năm Sa Đéc.
Chân dung cố nghệ sĩ Năm Sa Đéc.

Phải chia tay với nghệ danh đã làm nên tên tuổi của mình không chỉ là một thiệt thòi mà phải gọi là nỗi đau khó tả… Nhiều người hiểu chuyện cho rằng, chính điều này đã khiến bà chuyển hẳn sang lãnh địa cải lương vào năm 1934. Người thực tài, ở đâu, lĩnh vực nào cũng tìm được  cơ hội thể hiện được tài năng, bà nhanh chóng gặt hái thành tựu mới ở lĩnh vực mới tại các gánh Huỳnh Kỳ, Trần Đắc, Song Phụng… Dù là tuồng chủ đề xã hội, hay tích xưa … bà cũng đều diễn xuất sắc. Đình đám nhất là vai Lữ Phụng Tiên, Địch Thanh… Đặc biệt là vai Đổng Trác và vai Bà Phán Lợi trong vở "Đọan tuyệt " (phóng tác theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nhất Linh) được giới chuyên môn đánh giá là vai diễn "để đời". Thậm chí đến tận thập niên 60 của thế kỷ XX, bà vẫn tiếp tục gặt hái thành công trên lĩnh vực kịch nghệ. Sau ngày thống nhất đất nước, bà lại "thâm canh" trên màn bạc và thành công với nhiều bộ phim: "Cho đến bao giờ" (Đạo diễn Huy Thành -  1983); "Nơi bình minh chim hót" (Đạo diễn Việt Linh - 1986)…

Hai lần đò, chưa một lần mặc áo cô dâu

Cho đến nay, trên nhiều phương tiện thông tin, người đọc chủ yếu biết bà là vợ của nhà sưu khảo, người chơi đồ cổ ngoạn "ngoại hạng" Vương Hồng Sển, nhưng ít ai biết rõ đó là "lần đò" thứ 2 của nữ nghệ sĩ tài danh này. "Người chồng đầu của bà Năm là ông Đặng Ngọc Chấn", nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan cho biết. Ông Chấn sinh khoảng 1894, từng là Đốc phủ sứ. Hai người có với nhau một con trai là Nguyễn Ngọc Đặng vào năm 1939 (diễn viên điện ảnh, mất năm 2005), sau đó thì "đường ai nấy đi".

Theo lời chị Nguyễn Thị Thanh Loan (SN 1959), cháu ngoại ông Nguyễn Duy Cang (Sáu Cang), em ruột bà Năm Sa Đéc, người sống chung và gọi bà Năm là "bà ngoại" từ lúc 4 tuổi, thì nguyên nhân của cuộc chia tay chủ yếu xuất phát từ quan niệm…"xướng ca vô loài". Sau lần gãy đổ này, bà đưa con lên Sài Gòn và đến năm 1947 thì đi bước nữa với ông Vương Hồng Sển, có với nhà chơi cổ ngoạn này một người con trai là Vương Hồng Bảo vào năm 1950. Nhờ trúng xổ số kiến thiết, ông Sển mua được một căn nhà khang trang, sau này được biết đến với tên "Vân Đường Phủ".

Bà sống với cuộc hôn nhân thứ hai đến ngày về đất mẹ (1988) dù đó không hẳn là hôn nhân hạnh phúc đúng nghĩa. Cũng tương tự như cuộc hôn nhân đầu, hôn nhân lần hai của bà cũng không xe hoa, không áo cô dâu. Thậm chí đến ngày nhắm mắt bà cũng chưa được cụ Vương xác định là vợ hợp pháp (chưa từng có hôn thú). Ngay đến khi chết, bà cũng không được nằm cạnh chồng.

Theo ông Thiện Mộc Lan, vào khoảng năm 1984, khi bà Năm hỏi ý chồng: "Mình già rồi, nên bàn với gia tộc lo mộ phần cho tôi với ông", thì nhận được câu trả lời: "Thôi thì sau này, quê tôi, tôi về, còn bà thì về quê bà". Năm 1988, bà Năm mất, cụ Vương giữ đúng lời "cam kết": đưa vợ về an táng tại Tân Khánh Đông, Sa Đéc.

Theo những người thân trong gia đình, sinh thời bà mang nặng nỗi khổ tâm. Sau khi sinh Vương Hồng Bảo, cụ Vương bắt đầu có sự "phân biệt đối xử" với con riêng của vợ. Để có tiền nuôi con, bà phải tăng cường hoạt động nghệ thuật. Hết hát cải lương, lại chuyển sang kịch nói, rồi đóng phim… chăm chỉ như con ong hút mật và tràn đầy sáng tạo trên cánh đồng nghệ thuật để có suất diễn kế tiếp, để nuôi con…

Oan án… "con buôn"

Ra đi ở tuổi 81 sau cơn bệnh đột ngột, có thể nói bà đã là người đại thọ. Nhưng mãi đến khi chết, sự "bất hạnh" vẫn tiếp tục ám lên đời nghệ sĩ tài danh này bởi thông tin mà người đời sau "áp đặt", gán ghép không đúng sự thật. Trong đó đau nhất là oan án… "con buôn". Nhiều người vẫn viết bà Năm Sa Đéc từng buôn hủ tiếu và bánh bao: "Sau năm 1973 do đời sống sân khấu, điện ảnh khó khăn nên bà Năm Sa Đéc đã bươn chải, mở quán hủ tiếu ở Sài Gòn với hai món ngon đặc sắc là Bánh bao Cả Cần và Hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc".

Thậm chí có người còn khẳng định hủ tiếu bà Năm nấu mang đậm hương vị quê nhà Sa Đéc vì được bà chế biến từ bột xứ Sa Đéc... Tuy nhiên theo những người am tường, nhất là con cháu ruột của bà Năm, thông tin này hoàn toàn sai sự thật. Nhà báo Huy Nguyễn sau khi trực tiếp gặp những người quản lý "Quán hủ tiếu Cả Cần" đã xác nhận: quán khai trương vào năm 1969 tại tiểu đảo phía trước công viên Văn Lang ở ngã tư đường Hùng Vương và Nguyễn Tri Phương. Hơn 40 năm qua, quán vẫn tọa lạc ngay đúng một địa điểm và lúc nào cũng đông khách.

Trải qua hai cuộc hôn nhân nhưng mộ phần nữ nghệ sĩ Năm Sa Đéc vẫn nằm đơn lẻ tại ấp Đông, Sa Đéc.
Trải qua hai cuộc hôn nhân nhưng mộ phần nữ nghệ sĩ Năm Sa Đéc vẫn nằm đơn lẻ tại ấp Đông, Sa Đéc.

Một thành viên lâu năm của gia đình chủ quán cho biết, lúc mới khai trương quán không thu hút được nhiều khách hàng. Ông Cả Cần, chủ quán, đã mời nghệ sĩ Năm Sa Đéc đứng tên hộ như một cách mượn danh người nổi tiếng để quảng cáo ("Ăn hủ tiếu Cả Cần, nhớ bà Năm Sa Đéc" - Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 10/12/2011). Trong khi đó chị Nguyễn Thị Thanh Loan tỏ ra rất bức xúc với thông tin "trên trời rớt xuống" này: "Điều này dễ làm người đời sau hiểu nhầm là ngoại tôi "lấy của người làm của mình".

Theo lời chị Loan, do được thừa hưởng nền gia giáo nền nếp của ngày xưa nên cũng như nhiều phụ nữ đương thời, bà Năm rất giỏi công việc gia chánh, nhưng luôn giữ cho mình hình ảnh của một nữ nghệ sĩ, chỉ kiếm tiền bằng nghề diễn chớ không bao giờ đi buôn hay bán quán… Chị Loan cũng xác nhận việc bà Năm "đứng tên giùm" quán hủ tiếu Cả Cần là có thật: "Vì chủ quán là "con nuôi" của ngoại, tôi thường gọi là cậu Ba, nên thỉnh thoảng có mời ngoại ghé quán, trước là đãi ăn uống, sau là để quảng bá…".

Cụ thể hơn, theo chị Loan, chủ quán này là ông Trần Phấn Thắng, gốc người Minh Hương ở Mỹ Tho (Tiền Giang). Ông Thắng đã "nhập khẩu" toàn bộ "công nghệ" chế biến bánh bao, hủ tiếu từ Mỹ Tho lên. Nên biết thêm là Mỹ Tho cũng là quê hương của thương hiệu hủ tiếu nổi tiếng vượt khỏi giới hạn địa lý vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sau ngày thống nhất đất nước (1975), ông Thắng cùng gia đình định cư tại Canada, giao quán lại cho người bà con duy trì…

Bà Năm Sa Đéc đã đi vào cõi vĩnh hằng, không còn cơ hội để giải thích, chứng minh những câu chuyện do người đời sau nói về mình, nhưng xin đừng vì thế mà chúng ta được phép dễ dãi với sự thật, với lịch sử để rồi dễ làm nảy sinh ra những nhầm lẫn đáng tiếc về hình tượng một nữ nghệ sĩ tài danh mà tên tuổi gắn liền với Sa Đéc, với "Thành phố Hoa" bên bờ Tiền Giang trĩu nặng phù sa châu thổ.

Điền Thanh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.