“Cõi tịnh độ” Phạm Thiên Thư

Cuối cùng thì người thơ ấy cũng tìm cho mình một “động hoa vàng” để làm chốn an trú của tâm hồn, một điểm tựa để chiêm nghiệm, tĩnh tâm chờ nghe tiếng chim ca vui giữa thành vách sương mù. Lắng lòng hướng tâm tới tận cùng từng cơn thao thức của kiếp phù sinh.

Vốn là một người từng trải qua một quãng thời gian tu tập đạo hạnh, Phạm Thiên Thư tư tải những suy niệm vi tế về thế tục thông qua ngôn ngữ thi ca. Ở đó, ông có riêng một “cõi tịnh độ” để tìm về, tự hóa thân, xóa vô minh để hòa mình vào chân thể đại ngã: một là tất cả, tất cả là một.

Hệt như Nikos Kazantzaki- một triết gia Hy Lạp nổi tiếng từng suy niệm: “Bổn phận của ngươi là lên đường đi đến hố thẳm, một cách im lặng, một cách rộng lượng và không hy vọng.”

Có một quan niệm gần như bất biến rằng, những bậc chân tu phải lựa chọn chốn xuất thế ở chốn thâm sơn cùng cốc để tịnh tâm, thoát vượt lên trên mọi biên kiến của thói đời đa tạp. Nhưng với thi sĩ Phạm Thiên Thư thì ngược lại. Ông chọn lựa cho mình một lối hành đạo ngay chính giữa dòng đời đầy những biến xung, đa tạp.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư (trái) và tác giả tại quán cà phê “Động hoa vàng”.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư (trái) và tác giả tại quán cà phê “Động hoa vàng”.

Giải nhất về văn chương năm 1971 qua tác phẩm "Đoạn trường vô thanh" đã đưa Phạm Thiên Thư lên một vị trí xứng đáng trong ngôi đền thiêng của thi ca Việt Nam.  Phạm Thiên Thư bắt đầu nhập thế, hòa mình vào cuộc đời đầy náo động và sớm suy niệm lẽ thường hằng của kiếp phù sinh, thân phù thế: "Thì thôi! Tóc ấy phù vân/ Thì thôi! Lệ ấy còn ngần giang sương…/ Mai anh chết giữa cội đào/ Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu…".

Người ta cũng phải giật mình trước một thiền sư lãng mạn, mang tâm trạng của một chàng thanh niên đang mơ mộng trong ái tình: "…Em làm trang tôn kinh/ Anh làm nhà sư buồn/ Đêm đêm buồn tụng đọc/ Lòng chợt nhớ vương vương/ Đợi nhau từ mấy thuở/ Tìm nhau cõi vô thường/ Anh hoá thân làm mực/ Cho vừa giấy yêu thương" (Pháp thân).

Một lối tư duy lưỡng khả, nửa đạo nửa đời của Phạm Thiên Thư đã làm cho người ta như lạc bước vào một mê lộ chất chứa những ảnh tượng nửa thực, nửa hư ngụy, nhưng rất thiết thân, gần gũi với đời. Đó là một mối tình đi vào thiên thu mà mỗi lần gợi nhắc, ông lại ngậm ngùi. Bài thơ "Ngày xưa Hoàng thị"… ra đời và nhanh chóng nổi tiếng hơn sau khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và trở thành hành trang không thể thiếu của những ai đã từng trải qua một thời áo trắng học trò.

Tình yêu của Phạm Thiên Thư khiến chúng ta liên hệ đến một truyện ngắn rất nổi tiếng "Chuyện tình của thiền sư chùa Shiga" của nhà văn Nhật Bản Yukio Mishima. Câu chuyện mô tả những xung biến nội tâm về đạo lý và tình yêu của một nhà sư. Nhưng cuối cùng, thiền sư đã buông bỏ tất cả để ra đi với tiếng gọi của tình yêu. Lòng thiền sư thanh thản, tâm thiền sư không vọng động, bởi chính ông đã suy niệm được rằng, ở hố thẳm vô tận ấy tận cùng cũng chỉ là sắc, không mà thôi.

Thời đó, báo chí và dư luận đặt dấu hỏi về người con gái trong bài thơ. Chúng tôi cũng tò mò không kém. Ông cười bí ẩn: “Người ấy hiện đang sống rất hạnh phúc với gia đình ở nước ngoài”. Một mối tình đẹp như thi sĩ Pháp Felix Arvers từng viết trong bài thơ “Un Secret” của ông: “Lòng ta chôn một khối tình/ Tình trong giây phút mà thành thiên thu” (bản dịch của Khải Hưng).

Vào năm 1969, Phạm Thiên Thư còn gây bất ngờ trong văn giới khi ông dám dự phóng, khai mở một vấn đề mà ít ai dám vọng tưởng: Viết tiếp “hậu Truyện Kiều” của Nguyễn Du bằng thi phẩm "Đoạn trường vô thanh" gồm 27 chương, 3.296 câu thơ lục bát. Tác phẩm này đã đoạt giải nhất văn học miền Nam năm 1971. Theo Phạm Thiên Thư, trườ ng thi này đã mô tả quãng đời sau 15 năm lưu lạc của nàng Kiều; quảng diễn “phù du mộng”, vô tướng, vô ngã của kiếp nhân sinh.

Cấu trúc "Đoạn trường vô thanh" không theo chiều tuyến tính như của “Truyện Kiều” mà chỉ diễn tả bằng mạch xúc cảm phát khởi từ tâm tưởng làm chủ đạo. Vẫn là những câu thơ lục bát mượt mà, thấm đượm tâm hồn, phong vị dân tộc.

Thi pháp tài hoa của Phạm Thiên Thư đã làm một việc mà ít ai dám làm là nối lại một đường tơ đành đoạn và thắp lên một ngọn lửa lòng để cùng người tri âm gẩy tiếp từng cung phím lỡ. Ở "Đoạn trường vô thanh", thân phận Thúy Kiều được thụ hưởng một cuộc đời tươi sáng hơn, hạnh phúc lại mỉm cười với nàng sau bao cơn vùi dập phù trầm, mất mát trong vòng xoáy của "tuồng ảo hóa".

Qua cơn bĩ cực, con người lại biết làm mới mình như một chứng ngộ cho tình người, tình đời độ lượng: "Đoạn trường sổ gói tên hoa/ Xưa là giọt lệ, nay là hạt châu" (Đoạn trường vô thanh). Trong tác phẩm này, Phạm Thiên Thư không sử dụng những điển tích, từ chương của Trung Hoa mà thay thế vào đó là một loạt các hình ảnh, nhân vật hoàn toàn thuần túy Việt Nam. Người ta bắt gặp ở đó những tên tuổi quen thuộc, từ lâu đã đi vào tâm thức bao thế hệ: Tiên Dung, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Tản Viên, Bạch Vân…

Đọc "Đoạn trường vô thanh", người ta khó có thể phân biệt được bút pháp tả cảnh, tả tình tài hoa của Phạm Thiên Thư với thi hào Nguyễn Du. Đơn cử: "Sông dài cởi yếm hoàng hôn/ Bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay/ Gió về đưa ngọn sóng say/ Tiếng ca mục tử cuối ngày gọi trâu/ Bãi xa cỏ tím rầu rầu/ Mái đình rêu vọng trống chầu nhịp mưa".

Bìa tập thơ “Đoạn trường vô thanh” của nhà thơ Phạm Thiên Thư.
Bìa tập thơ “Đoạn trường vô thanh” của nhà thơ Phạm Thiên Thư.

Khi được hỏi rằng, viết tiếp “Truyện Kiều” là một điều cực kỳ khó khăn, bởi khó có thể tác phẩm nào có thể vượt qua được “Truyện Kiều” của Nguyễn Du - bởi “tiên bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả”. Phạm Thiên Thư nói: “Cụ Tố Như (tức Nguyễn Du) từng xem đứa con tinh thần của mình chỉ là lời quê góp nhặt dông dài. Tôi viết tiếp về Kiều cũng chỉ muốn làm một nghĩa cử tri ân của hậu thế với tiền nhân mà thôi”.

Cố Giáo sư Cao Xuân Hạo, một trong những cây đại thụ về ngôn ngữ của Việt Nam sau khi đọc "Đoạn trường vô thanh" đã viết: “Số người say mê Truyện Kiều rất đông. Có thể nói không ngoa ngôn rằng đó là cả một dân tộc. Nhưng ở một số rất ít người, niềm say mê ấy lớn đến mức đã thúc đẩy họ cố công viết tiếp Truyện Kiều - một việc đòi hỏi biết bao tài năng và tâm huyết.

Trong cái số ít đó, Phạm Thiên Thư - tác giả cuốn "Đoạn trường vô thanh" là người thành công hơn cả. Những dòng thơ lục bát rất gần gũi với những câu Kiều và thiên tự sự đầy hình tượng và màu sắc của anh về đoạn đời sau của nàng Kiều mà Nguyễn Du chưa viết (hay chưa kịp viết), tôi đã say sưa đọc một mạch, khi đọc xong, tôi dám tin rằng, nếu chính anh linh Tiên Điền tiên sinh có đọc qua, chắc cũng sẽ mát lòng khi nhận ra một môn sinh xứng đáng của mình, một người mà gần 300 năm sau đã tìm được một cách hay nhất để khóc thương Tố Như vĩ đại”.

Từng là một thiền sư, Phạm Thiên Thư quán thông được những thông điệp mang tính mật ngữ, ảo diệu của kinh Phật. Ông lại làm thêm một điều bất ngờ nữa là thi hóa kinh Phật với hàng nghìn câu thơ. Đó là kinh Kim Cương, khi chuyển thành thơ với nhan đề "Qua suối mây hồng", ấn hành vào năm 1970. Thi hóa kinh Hiền Ngu, kinh Lăng Nghiêm.

Ông cho hay, đằng sau mỗi bản kinh là một cõi mênh mông, khó ai có thông đạt hết lẽ huyền vi của nó. Phạm Thiên Thư đã hóa tính ngôn ngữ kinh Phật sang một thứ ngôn ngữ trần thế mà ai cũng có thể cảm nhận được.

“Trước khi viết, tôi ăn chay, nhập thiền, cầu nguyện và viết. Tôi không nghĩ đó là thứ ngôn ngữ của mình mà cảm giác có một phép mê dụ, ảnh tượng vô hình nào đó dụ dẫn. Khi tĩnh tâm đọc lại từng trang thơ, tôi không nghĩ là mình có thể viết được như vậy”, Phạm Thiên Thư chia sẻ. 

… Khi rảo bước tới quán cà phê “Động hoa vàng” ở đường Hồng Lĩnh, quận 10 –TP Hồ Chí Minh, người ta bắt gặp một ông già ăn mặc tuềnh toàng, miệng phì phèo thuốc lá, thi thoảng vào ra dắt xe, dẫn khách vào quán. Ông mở quán cà phê mới được một vài năm nay. Lúc vắng khách thì ngồi một góc yên tĩnh lấy giấy bút ra làm thơ.

Ít ai biết đó là thi sĩ Phạm Thiên Thư. Giao tình với nhau chỉ bằng những lời thoại không đầu không cuối, chúng tôi ngỡ ngàng một cảm giác ông như một kẻ trần hoàn, lạc lối vào cõi đời này. Ông cầm tập thơ ghi mấy chữ ký tặng sách cho một người bạn mà quên cả viết và ký tên của mình. Thôi thì, hãy cứ để cho những đóa hoa mai vàng mãn khai trong ánh nắng buổi mai ở góc vườn nhà ông như nụ cười bất tử, vô lượng của Ca Diếp trả lời cho những dấu hỏi lớn này...

Bảo Trung -Xuân 2017

Các tin khác

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.