Có những nhà văn đã nổi tiếng như thế!

Nhiều người vẫn nhầm tưởng sáng tác văn học là lĩnh vực chỉ dành riêng cho những người học hành bài bản, những người "lắm chữ". Sự thật không hẳn như vậy. Trong mỗi chúng ta đều là một người nghệ sỹ. Và phẩm chất đó chỉ chờ ngày được "đánh thức" mà thôi.

Không ít nhà văn nổi tiếng trên thế giới chưa hề qua bất cứ một trường lớp đào tạo chính quy nào cả mà vẫn phát huy được tài năng nghệ thuật của mình thông qua sự kiên trì, cần mẫn và tự tin.

Charlotte Perkins Gilman

Charlotte Perkins Gilman nằm trong số những nhà văn nữ đầu tiên tạo dựng được tên tuổi của mình tại Mỹ. Vào giữa thế kỷ XIX, khi phụ nữ vẫn bị "xếp sau" trong xã hội thì bà đã dám đứng lên nói về một tương lai mà tất cả các giới tính đều được đối xử bình đẳng. Đến nay các nhà hoạt động nữ quyền vẫn còn đọc truyện ngắn và tiểu luận sáng tác bởi Charlotte Perkins để lấy nguồn cảm hứng cho hành động của chính mình.

Charlotte được sinh ra trong một gia đình có truyền thống học vấn. Một trong những người cô của bố bà là nữ văn sỹ Harriet Beecher Stowe, tác giả tiểu thuyết "Túp lều bác Tom" nổi tiếng. Vậy nhưng ngay từ nhỏ bà đã rơi vào khó khăn do người cha bỏ rơi gia đình đi lấy vợ khác. Mẹ bà phải lao động quần quật hằng ngày để nuôi  hai con nhỏ, vì vậy mà cô bé Charlotte hầu như được nuôi lớn bởi hai người bà vốn là nhà giáo và nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng.

Gia đình Charlotte Perkins nghèo đến mức bà phải chuyển trường đến bảy lần và đến năm 15 tuổi thì chỉ mới học xong lớp 4. Nguồn an ủi duy nhất của bà là những cuốn sách bà mượn từ thư viện công. Tuy vậy, bà phải tạm gác lại giấc mơ viết lách mà kiếm việc làm nuôi bản thân. Charlotte từng làm nhiều nghề khác nhau như hoạ sỹ bưu thiếp, gia sư, thợ may, phụ bếp, v.v…

Sau khi sinh đứa con đầu lòng, Charlotte và chồng là hoạ sỹ CharlesWalter Stetson xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến li dị. Charlotte cùng con nhỏ chuyển đến California để sống trong khi không có một đồng xu dính túi. Mẹ và con sống lay lắt nhờ nghề bán xà - phòng dạo của Charlotte. Nhưng vận may cuối cùng cũng mỉm cười với bà. Nhờ sự động viên của nhiều người bạn thân, Charlotte chính thức cầm bút. Bà viết nhiều thứ, từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến thơ, phóng sự và tiểu luận.

Vào thời điểm này, phong trào hoà bình, phong trào công nhân và phong trào nữ quyền bắt đầu phát triển mạnh ở Mỹ. Cả ba phong trào tìm được tiếng nói chung ở Charlotte. Các tác phẩm của bà nói về sự bình đẳng giữa mọi giới tính, mọi sắc tộc, mọi giai cấp trong một xã hội Mỹ phân hoá ghê gớm. 

Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà, truyện ngắn "The YellowWallpaper", tố cáo những thành phần cổ hủ chống đối sự tiến bộ của nền văn minh bằng cách cầm tù người phụ nữ trong chính ngôi nhà của họ. Truyện ngắn giống như một tiếng "sét đánh" giữa văn đàn đương thời và buộc bất kỳ người Mỹ nào có lương tâm phải xem xét lại vai trò của phụ nữ trong xã hội.

Trong những năm còn lại của sự nghiệp, Charlotte Perkins sáng tác không ngừng nghỉ. Tác phẩm của bà giống như "kim chỉ nam" cho những người phụ nữ và công nhân đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của mình. Bản thân Charlotte cũng tham gia lãnh đạo nhiều tổ chức nữ quyền và làm chủ bút các tờ báo, tạp chí về phụ nữ. Thật đáng tiếc là giữa lúc ở đỉnh cao sự nghiệp, bà bị mắc ung thư vú và mất không lâu sau đó.

John Grisham

Tiểu thuyết trinh thám nói chung đã tồn tại từ thời trung cổ, nhưng tiểu thuyết về đề tài toà án nói riêng lại là một lĩnh vực rất mới mẻ. Chỉ nhờ vào tác phẩm của những nhà văn như John Ray Grisham Jr. mà công chúng mới biết đến thể loại mới mẻ này. 

Điều đặc biệt nhất là bản thân John Grisham xuất phát không phải là một nhà văn chuyên nghiệp. Cha ông là công nhân xây dựng, và vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó mà John không được đi học đầy đủ. Công việc đầu tiên của ông là thợ làm vườn cho một nhà trẻ địa phương. Sau đó ông phải vừa làm thợ ống nước, vừa làm thợ đắp đường để có đủ tiền nuôi thân.

Nhà văn John Grisham trong một buổi giới thiệu tác phẩm mới của mình.
Nhà văn John Grisham trong một buổi giới thiệu tác phẩm mới của mình.

Việc học hành của John Grisham không được thuận lời vì phải liên tục làm thêm tại một cửa hàng quần lót. Ông chuyển đại học đến ba lần mới hoàn thành tấm bằng cử nhân kế toán. Ý định ban đầu của John là học tiếp bằng thạc sỹ tài chính, nhưng sau đó ông lại chuyển qua ngành luật sư.

Ý nghĩ trở thành nhà văn chỉ bật lên trong đầu John sau một sự tình cờ. Trong khi ông đang ngồi uống cà-phê gần toà án, John bất ngờ nghe được cuộc trò chuyện giữa một cô bé 12 tuổi và bồi thẩm đoàn. Vì tò mò mà ông đi theo họ vào toà án để tham gia phiên xét xử liên quan đến cô bé. 

Cả John lẫn bồi thẩm đoàn đều không giấu nổi nước mắt khi nghe câu chuyện của cô bé bị bắt cóc, hãm hiếp và đánh đập. Vị luật sư bèn viết một câu chuyện để giải thoát hết tất cả cảm xúc đang chất chứa trong lòng mình. Đến khi ông dừng lại thì John mới nhận ra mình đã viết xong chương đầu của một quyển tiểu thuyết.

Quyển tiểu thuyết đầu tay của John Grisham mất đến ba năm để hoàn thành. Ông còn tốn thêm hơn một năm nữa để tìm nhà xuất bản. 28 nhà xuất bản ông gõ cửa đều từ chối bản thảo. Họ chê cách viết của ông khô khốc không khác gì một người thừa phát cả. Phải đến nhà xuất bản thứ 29 thì tác phẩm của John mới được in thành 5.000 bản.

Trước phản ứng lạnh nhạt của độc giả, John càng quyết chí theo nghiệp viết văn hơn. Ông bỏ hẳn công việc luật sư mà vùi đầu trong đống sách vở ở thư viện. Nếu không dành thời gian để nghiên cứu, luyện tập viết lách thì ông đi khắp các toà án để tìm hiểu những vụ án, phiên xét xử có phần kỳ lạ. 

Công lao của ông được kết tinh trong cuốn tiểu thuyết "The Firm". Tác phẩm nằm trong danh sách sách bán chạy nhất trong 47 tuần liền và là tiểu thuyết bán chạy nhất nước Mỹ năm 1991. The Firm còn được chuyển thể thành phim vào năm 1993 do minh tinh Tom Cruise thủ vai chính.

Từ đó đến nay sự nghiệp của John Grisham đi lên như diều gặp gió. Tính đến năm 2021 ông đã sáng tác tổng cộng 37 tiểu thuyết, trong đó 36 quyển nằm trong danh sách bán chạy nhất năm. Ít có nhà văn nào lại hiểu hệ thống thi hành pháp luật như John Grisham, và qua tác phẩm của ông mà người ta mới nhìn thấy được những góc khuất chốn công đường.

Bản thân tác giả sau khi chứng kiến quá nhiều sự bất công tại toà án đã đứng lên để bảo vệ người vô tội. John Grisham là một trong những tiếng nói hàng đầu trong phong trào đòi dỡ bỏ án tử hình tại Mỹ. Ông cũng được biết đến như người mà bất kỳ gia đình nào tìm đến để nhờ viết đơn xin ân xá, giảm án oan cho con cháu họ. Tuy đã ở tuổi 61 nhưng không có dấu hiệu gì là John Grisham sẽ sớm từ bỏ sự nghiệp viết lách và cải tổ luật pháp của mình.

John Steinbeck

John Ernst Steinbeck Jr. là một trong những nhà văn vĩ đại nhất mọi thời đại. Tác phẩm của ông đã được dịch sang 62 ngôn ngữ khác nhau, thậm chí còn được đưa vào sách giáo khoa của nhiều nước trong đó có Việt Nam. Khi ông mất vào năm 1968, nhiều nhà phê bình còn tuyên bố: "Sẽ không còn ai viết về người lao động Mỹ hay hơn John Steinbeck!".

Thật không có gì ngạc nhiên khi biết nhà văn của người lao động Mỹ cũng xuất thân từ giai cấp lao động. Ông nội của John Steinbeck từng lập nên một hợp tác xã tại Palestine trước khi chuyển đến Mỹ sống. Đến khi nhà văn được sinh ra thì gia đình ông đã khấm khá lên, nhưng cả cha mẹ của John Steinbeck vẫn giữ gốc gác nông dân của mình. 

Khi còn nhỏ cậu bé John thường xuyên làm thuê cho những trang trại của hàng xóm. Nhờ vậy mà cậu bé sớm có cơ hội tiếp xúc và hiểu được những người bần nông chịu khổ trên chính mảnh đất họ cày cấy. Kể từ đó ông nung nấu tham vọng viết một cái gì đó về nỗi khổ của những người nông dân không đất.

Ngay sau khi tốt nghiệp trung học, John nhảy tàu chuyển đến sống tại thành phố New York, nơi đặt trụ sở của tất cả các nhà xuất bản lớn. Buổi sáng ông làm công nhân xây dựng, còn buổi tối thì vừa tự học bổ túc, vừa viết lách. Cứ như thế được chín năm thì John đành bỏ cuộc vì không nhà xuất bản nào chấp nhận bản thảo của ông. 

John trở về bang California trong tình trạng không một xu dính túi. Trong thời kỳ cuộc Đại khủng hoảng, John làm nghề đánh cá để nuôi mình và người vợ mới cưới. Theo lời nhà văn kể lại, thời điểm ông cảm thấy tủi nhục nhất cuộc đời là khi ăn trộm thịt từ một gánh hàng chợ. Ông xấu hổ đến mức sau đó không dám ăn thịt mà cho hết nhà hàng xóm.

Sau khi Steinbeck xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay, mọi chuyện bắt đầu sáng sủa hơn đối với ông. Tuy số tiền bán sách không đủ để sống nhưng cũng giúp trang trải phần nào cho gia đình ông. Thành công đầu tiên mà nhà văn đạt được là cuốn tiểu thuyết "Tortilla Flat" với nội dung chế giễu nhẹ nhàng tính lãng mạn nửa mùa vùng nông thôn, một đề tài mà John được so sáng với cố đại văn hào Mark Twain.

Liên tục trong bốn thập niên John Steinbeck luôn đi theo giai cấp lao động qua những biến chuyển của lịch sử Mỹ. Các tác phẩm như "Of Mice and Men" và "The GrapesofWrath" giống như ánh đèn soi cho nước Mỹ thấy cảnh sống cùng cực của những người bị kẹt dưới đáy xã hội. 

Cho dù viết về nông dân, công nhân hay người vô gia cư, ông luôn đứng về phía những người lao động chân chính tuy bị cuộc sống chà đạp nhưng vẫn giữ được tình người của mình. Ông được trao giải Nobel Văn học năm 1962, trở thành người Mỹ thứ sáu được giải thưởng danh giá này tôn vinh.

Vũ Lê (Tổng hợp)

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.