Cố nhà thơ Chu Hoạch qua ký ức bạn cùng thời

Nhân 10 năm ngày mất của nhà thơ Chu Hoạch (1941-2007), ngày 13/10 vừa qua, bạn bè thân hữu đã về thăm lại phần mộ của ông ở Mỹ Đức, Hà Nội, nhắc nhớ những kỷ niệm Hà Nội một thời có những con người đã sống. Như rất nhiều bài thơ và bức tranh ông vẽ nay đã lưu lạc, Chu Hoạch hiện lên bằng nhiều mảnh ghép - mà ngay cả những người tưởng chừng thân hiểu ông nhất cũng không khỏi bất ngờ.

1.Được biết đến nhiều vào những năm 1990 qua những bài thơ đăng báo nhưng Chu Hoạch là một cái tên không xa lạ trong giới văn nghệ từ trước đó gần 30 năm. Năm 1963 ông đã viết bài thơ "Quê" được bạn bè truyền tụng.

Sau này, khi vào làm công nhân móc cống, Chu Hoạch đã viết nhiều câu thơ ám ảnh. Gia tài thơ Chu Hoạch, theo họa sĩ Đặng Huy Quyển - một người gắn bó thân thiết với Chu Hoạch gần 20 năm - ông sáng tác khoảng 500 bài, còn vẽ thì khoảng 200 bức tranh sơn dầu lẫn ký họa chì than. Nhiều bức tranh ông vẽ thất lạc, vì ông sống nay đây mai đó, chuyển từ nhà trọ này đến nhà trọ kia. Nhiều bài thơ ông viết đã mất, vì chính ông có lần đã tự tay đốt đi bản thảo.

Có những câu thơ, bài thơ, Chu Hoạch làm rồi quên, cho đến khi bạn bè đọc lại. Nhưng có những thứ "tình" mà khi nằm xuống, người ta không thể nào không nhớ. Quen thân với Chu Hoạch, có những cái tên nhắc đến nhiều người biết như nhạc sĩ Nguyễn Cường, nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc, đạo diễn Phó Bá Nam…, và cả những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ tên tuổi mà nay đã không còn. Hà Nội một thời, có những con người yêu nghệ thuật mà chịu đau đớn, nhưng cũng nhờ nghệ thuật mà được cứu rỗi. Sự cứu rỗi không chỉ bởi bản thân nghệ thuật mà bởi tình người, tình nghệ sĩ họ dành cho nhau.

Chân dung tự họa của Chu Hoạch - sơn dầu, 1997.
Chân dung tự họa của Chu Hoạch - sơn dầu, 1997.

Thế hệ những người lớn lên và trưởng thành vào những năm 1960-1980, có một số người gặp ít nhiều khó khăn khi đến với nghệ thuật. Cái thời mà nói như nhà thơ Trúc Cương: "Tôi khốn khổ, tôi méo mó vì hai bữa ăn hàng ngày/ Cơm là điều tôi thích nhất/ mà em thì chỉ có lời ca".

Hoặc nói như họa sĩ Đặng Huy Quyển, "Ngày đó, những người không làm cố định ở đâu, không có tem phiếu, không dám về nhà. Vì về nhà ăn thì coi như ăn vào tiêu chuẩn của người khác. Và đi vẽ thì phải trốn gia đình". Chu Hoạch từng viết: "Tôi trốn con trai mình/ Anh bạn tôi rình trốn bố/ Hai đứa hẹn nhau trên phố/ Đi vẽ chân dung mùa thu".

Họ sống chủ yếu không lương mà họa phẩm lại đắt đỏ. Một tuýp sơn dầu bằng ngón trỏ trị giá 1/6 tháng lương, chỉ vẽ được 1-2 bức tranh. Giá tiền một cây bút chì than có thể ăn được hai bát phở, mà phở thì có khi nhịn đến mấy năm mới ăn. Toan vẽ không có, thường là vẽ trên vải bạt, bao tải, thậm chí "xin được cái quần kaki rách cũng xé ra được một mảnh để vẽ". Và "tranh vẽ ra không phải để bán, tặng người ta không lấy".

Nhưng một tháng không chỉ vẽ bằng 1 tuýp sơn dầu, vẽ từ năm này qua năm khác. Họ sống thế nào và lấy tiền mua họa phẩm ở đâu? Họa sĩ Đặng Huy Quyển kể lại rằng, khi ấy họ lang thang khắp nơi, sống nhờ bạn bè. Ngày thì ăn ở nhà thơ Trúc Cương, hôm thì ăn ở nhà nhạc sĩ Nguyễn Cường, nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc. Có cặp lồng cơm mẹ nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc chuẩn bị cho anh mang đi ăn trưa thì thêm cả Chu Hoạch và Đặng Huy Quyển "ăn boóng vào". Đến nỗi khi bạn bè đến nhà, mẹ nhạc sĩ không biết, bảo "Nó gầy mà thầy cơm". Bà không biết là mấy năm liền như vậy.

Còn họa phẩm, tất cả những gì có thể bán được họ đều bán để lấy tiền mua. Một lần em trai của Chu Hoạch đi nước ngoài về mua tặng anh một cái áo màu mận chín rất đẹp. Chu Hoạch mặc vào, hỏi Đặng Huy Quyển là "ngắm có đẹp không". Xong một lời khen thì động tác tiếp theo ông liền ra phố Gia Ngư, cởi chiếc áo để Huy Quyển vắt lên vai, bán. Xong rồi ông ngồi khóc. Lần khác, khi người cha dượng vào Nam để lại cho ông chiếc xe đạp, thì "Hôm ông bán phanh trái, hôm bán phanh phải. Hôm khác đổi cái xích tồi hơn để lấy tiền chênh lệch"…

Những người như Hoàng Nhuận Cầm, Trúc Cương, Nguyễn Cường, Đặng Hữu Phúc, Lợi "què"… đã "gánh đến gù lưng" nuôi ăn từng bữa, từng ngày Chu Hoạch và Đặng Huy Quyển. Nhưng vẫn không thể nào thoát khỏi "cái đói triền miên", chuyện họ đứt bữa là thường, thậm chí nhịn 3-4 ngày cũng bình thường.

Những bài thơ, những bức tranh vẽ ở giai đoạn này "trả giá bằng máu và nước mắt", "lấy cả tuổi thanh xuân để đánh đổi một cái không có gì". Để cuối cùng có được những bức tranh, mà "mang tiếng xấu với xã hội dù chẳng trộm cướp gì, cả gia đình khinh ghét"...

2.Đặng Huy Quyển quen biết nhà thơ Chu Hoạch từ năm 1969 qua một người bạn. Hai người nhanh chóng thân thiết, gắn bó, đi vẽ hàng ngày với nhau đến năm 1986. Chu Hoạch tự học vẽ và nhận họa sĩ Bùi Xuân Phái là thầy, nhưng chủ yếu qua trao đổi, đàm đạo. Đặng Huy Quyển có lợi thế hơn một chút về hội họa cơ bản vì từng học ở Trường Mỹ thuật Công nghiệp. Những lần đi vẽ chung, ngoài chung sở thích, đó có lẽ còn là chỗ dựa tinh thần cho cả hai. Họ mến nhau về tài và thương nhau hơn anh em ruột thịt.

Nhớ lại mùa đông năm nào, khi Đặng Huy Quyển "chán mình" húi trọc, thì Chu Hoạch đạp xe khắp Hà Nội đi tìm, chỉ để đưa một cái mũ biên phòng bảo "Thôi mày đội cái này cho đỡ rét". Cũng con người đó - một người có sức ảnh hưởng lớn, không muốn đàn em chịu ảnh hưởng của mình, thì "gây ra một chuyện, thôi mày một đường, tao một đường, anh em đừng gặp nhau nữa, mày phải là mày".

Đặng Huy Quyển nói với bạn bè anh em, rằng không có Chu Hoạch, không có ông ngày hôm nay. Chu Hoạch gần như một người anh đỡ đầu trong quãng đường đời tuyệt vọng nhất vì tốt nghiệp vào năm giảm biên chế, ra trường làm hậu đài, kéo màn ở đoàn ca múa Hà Nội. Được biết Chu Hoạch và qua Chu Hoạch biết nhiều văn nghệ sĩ khác, ông "vẽ đẹp lên, viết hay hơn, trở thành một người làm được nhiều việc". Và từ khi tách ra năm 1986, ông đã "trở thành chính mình".

Năm 2007 thì họ tách nhau hẳn, khi nhà thơ Chu Hoạch uống rượu về bị ngã, nằm viện 9 ngày, rồi mất. Nhưng những câu chuyện, những ẩn giấu về nhà thơ thì không phải ai cũng biết. "Mọi người cứ bảo cái thằng cha này nó lạ tính, nó đang thế, tự nhiên chơi mình một vố, vớ vẩn thôi để ghét ông ấy và xa cách đi". Nhưng "không phải thế đâu, trong bụng nghĩ khác hẳn". Cắt nghĩa điều này, họa sĩ Đặng Huy Quyển chia sẻ: "Chu Hoạch là người sợ lòng tốt mà suốt đời chỉ tốt với mọi người". Vì đến một lúc, thấy người ta tốt quá với mình, mà cứ nương nhờ lòng tốt đó thì chính mình cũng thấy ngại nên tìm cách xa lánh đi. "Nhưng, thế là một người rất tự trọng".

Trên cùng một chuyến xe, kể lại những chuyện về một con người, nhưng câu chuyện lại chạm đến đời sống của cả một thế hệ những người vô tư, tận hiến cho nghệ thuật. Cái thời đói khổ, nhiều định kiến nhưng vẫn cho người ta niềm tin về một điều cao cả, đẹp đẽ là tình bạn bè đùm bọc, chân thành và khát vọng nghệ thuật để sống và dâng hiến. Có lẽ vậy cho nên họ mới "yêu nghề, giữ nghề và quý trọng nghề đến thế".

Hải An

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.