Có một nhà thơ trong một nhà thư pháp

Vào một ngày đầu Xuân Đinh Dậu, tôi và nhà báo Trần Đình Bá đến chúc Tết nhà thư pháp Nguyễn Văn Bách. Đây là lần đầu tiên hai người nổi tiếng gặp nhau. Ông Bá mang đôi lọ hoa bằng gỗ bách xanh, quý vật xứng với quý nhân, tặng cụ Bách. Và cũng ngầm một lời chúc cụ như tùng, như  bách - quý hiếm và vòi vọi non cao.

Hơn chục năm trước, trọng tài, trọng nhân cách của ngòi bút Trần Đình Bá, nhà thư pháp lừng danh của Thủ đô đã tặng ông Bá bốn chữ: Thái bút mạc tà, tạm dịch theo cách các nhà Nho xưa là Bút hoa không vạy.

Nhìn mái tóc bạc của ông Bá, cụ Bách hỏi:

- Năm nay ông bao nhiêu tuổi?

- Dạ, hơn bảy mươi ạ…

- Còn trẻ con nhỉ?

Cả hai chúng tôi đều bật cười vì câu đùa hóm hỉnh của cụ; nó cũng giống như một lời chúc: Ông còn xuân lắm, còn sống lâu với đời!

Rồi cụ tự tay pha nước, rót rượu mời khách. Cụ trỏ vào tủ rượu: “Đấy, toàn rượu Tây, người ta cho nhưng tôi chẳng bao giờ uống. Tây nó chưa biết uống rượu đâu. Đầu xuân, mời các ông uống rượu của tôi, rượu nếp do nông dân cất, rẻ lắm, 50 nghìn một lít. Thuốc tôi chế, chỉ bốn vị thôi, bốn vị thuốc vừa dễ tìm, vừa rẻ nhưng rượu thì khỏi chê; lại có vị chua kích thích tiêu hóa, không làm hại gan…”.

Nhà thư pháp Nguyễn Văn Bách (trái) và nhà báo Trần Đình Bá.
Nhà thư pháp Nguyễn Văn Bách (trái) và nhà báo Trần Đình Bá.

Nhìn lên án thư, tôi thấy đôi câu đối Nôm của cụ:

Đất đã chật rồi không đón khách;
Trời còn giữ lại để mừng Xuân!

Trào lộng mà lạc quan, càng ngẫm nghĩ càng thấy hay và lạ: Đất đai đã chật rồi, đã chôn bao xác người rồi; không nhận thêm ai nữa; Ta đã hóa nhành xuân, trời còn phải giữ lại với đời để làm cho mùa xuân thêm tươi đẹp!

Cụ Bách nhắc đến tên một vài người đang nổi tiếng trong làng viết đương thời rồi lắc đầu chán ngán, coi như đồ bỏ; khen anh Bá với hành trình tới chân lý, có ngòi bút mang tính chiến đấu, vị tha…

Rồi vui chuyện, cụ ngâm bài thơ viết năm chín mươi tuổi như để giới thiệu cảnh nhà với anh Trần Đình Bá: Ba trai ba gái sáu đầu con/ Dâu rể vừa chung một tá tròn/ Chín cháu thập thò mù chữ thoát/ Dăm ba tên nữa hãy còn mon/ Tuổi già chín chục thân chưa lõi/ Trái đã già rồi hạt vẫn non/ Mừng được chút nào hay chút ấy/ Chẳng dù, chẳng tán, chẳng chen bon…

Cụ rót thêm rượu vào chén cho khách, chiêu thêm một ngụm rồi giải thích: Có chín cháu xong lớp 12, đại học thì gọi là thoát mù chữ. Còn mấy đứa còn nhỏ hơn thì mon men, cũng là mon men theo đứa lớn. Còn mình thì đã chín mươi mà vẫn chưa lõi đời…

Tôi đỡ lời cụ:

- Thưa bác, cháu hiểu chưa lõi đây là thân còn chắc khỏe, chưa bị rỗng chứ ạ? Với lại câu sau nghe như lời “quảng bá” ấy; chơi chữ “già” và “non” và rất già về nghệ thuật trào phúng…

- Ấy, thì văn chương nó thế, anh hiểu thế nào thì cứ hiểu! Mà cũng để cho vui ấy mà…

Vui chuyện, cụ kể có lần trao đổi với GS Nguyễn Lộc (chuyên gia “Truyện Kiều”) về câu thơ “Mụ già hoặc có điều gì/ Liều công mất một buổi quỳ mà thôi”. Theo ý cụ, thì phải hiểu “buổi quỳ” ấy như trong giai thoại Trạng Quỳnh cảm ơn cô hàng bánh lá: “Đương cơn nắng cực đói lòng thay/ Nhờ có ơn cô một mẹt đầy/ Nào biết lấy gì mà cảm tạ/ Xin quỳ hai gối, chống hai tay”.

Ngày 28-4-1962, Văn Miếu - Quốc Tử Giám được Bộ Văn hóa xếp hạng là Khu di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Trong đợt trùng tu đó, cụ Bách được mời viết chữ, trong đó có đại tự “Văn Miếu môn” cao một mét. Không có bút lông to; cụ phải dùng sào buộc giẻ làm bút, vậy mà chữ viết ấy vẫn vừa nghiêm cẩn, vừa hoa mỹ còn đến ngày nay.

Thần bút ấy, khí lực ấy đáng gọi là phi phàm! “Thiên đô chiếu” 214 chữ được viết vào năm 2010; kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, được nghệ nhân Nguyễn Thế Long gò đồng, mạ vàng 9999, đặt ở Đoan môn, Hoàng thành Thăng Long, trở thành báu vật lấp lánh cùng lịch sử.

Cụ Nguyễn Văn Bách sinh năm 1925 tại Làng Cuối, xã Nghĩa Hưng, huyện Gia Lộc, Hải Dương, trong một gia đình Nho học. Bố là Nguyễn Văn Nghiễm, ông là Nguyễn Văn Kính, cụ là Cử nhân Nguyễn Văn Khản, có tên trong sách Đăng khoa lục. Cụ Bách gọi cụ Cử Khản là “tri huyện rách”, còn nhắc đến ông và bố, cụ Bách cười hấp háy: “Đồ kiết ấy mà” - ý nói dù tinh thông nho, y, lý, số thì vẫn nhà nghèo. Nghề thuốc khởi từ cụ Cử Khản, đến ông Kính thì chuyên nghiệp và trở thành gia truyền.

Cụ Bách học chữ, học thuốc từ bố mình và không biết học thế nào mà 13 tuổi đã viết chữ đi bán ở khắp các chợ huyện Gia Lộc và khi Nhà nước mở kỳ thi giảng viên cho Viện Đông y vào năm 1959, cụ đỗ ngay cùng với 27 vị khác như Nguyễn Sĩ Lâm, Vũ Tuấn Sán… họp thành “nhị thập bát tú” của Đông y Việt Nam và đồng thời cũng là những nhà Hán học cự phách. Cụ công tác ở Viện Đông y cho đến ngày về hưu năm 1991; hưởng lương Chuyên viên 6.

Kể từ khi biết cụ, cứ gần Tết tôi lại đến ngõ 49 Tràng Tiền, gập ghềnh lên gác hai của một căn hộ nhỏ số 51 có đề tên “Nguyễn Văn Bách”. Tầng dưới là nơi anh Nguyễn Kỷ Thiên, người con thứ năm làm thuốc, y bát của cha. Không biết từ năm nào, cứ mỗi năm cụ lại có một câu đối về mình, về đất nước. Tôi mê câu đối của cụ vì lần đầu tiên đến nhà, được đọc câu đối Nôm thể hiện cái sang của người nghèo; cái đẹp của tâm hồn thi sĩ đã hòa lẫn với thiên nhiên:

Nhà hẹp chứa quyển vàng chật gác;
Cửa thưa treo trăng bạc làm gương.


Một câu đối khác nói về cảnh nhà, về chí mình bằng chữ Hán:

Hạnh quất hữu duyên thừa hậu ấm;
Công danh phi ý ký nhàn vân.

(Nghề thuốc có duyên, nhờ phúc tổ
Công danh chẳng bợn, gửi mây nhàn)

Khi còn làm ở Báo Nhân dân, vào năm 1988, tôi nhớ ông có đôi câu đối gửi đăng báo nhân kỷ niệm 800 năm chiến thắng Nguyên Mông lần thứ ba, khẳng định tinh thần giữ nước của dân Việt bao giờ cũng sôi nổi, mạnh mẽ và nước ta bao giờ cũng là chiến trường đáng kinh hãi cho mọi kẻ xâm lược:

Cột đồng Mã Viện đâu rồi? Mỗi xuân về chợt nhớ nguyền xưa, dân Giao Chỉ mỉm cười trước gió;

Cọc gỗ Bạch Đằng còn đó! Khi Tết đến chạnh niềm cố quốc, hồn Nguyên Mông than khóc bên ghềnh.

Tuy bản thân mình công danh chẳng bợn, có việc làm, có chỗ ở, có cơm ăn, như con chim có cái cành để đậu đã là vạn phúc. Song, lòng người trí thức thì đêm ngày ưu thời, mẫn thế. Năm 2010, năm Hổ (Canh Dần), kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, ông làm đôi câu đối đọc cho Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và nhắn gửi các nhà lãnh đạo:

Nước trải ngàn năm lòng chẳng hổ;
Dân chưa nửa bụng, dạ còn mang.

Những câu đối viết riêng cho mình của cụ Bách cũng rất thú vị. Tết năm 2011, cụ viết:

Tuổi tác thẹn ta già, rượu nhạt men say, hoa nhạt thắm;
Sởn sơ mừng bạn trẻ, xuân vừa đương độ, lá vừa xanh.

Tết 2014:

Tuế dịch ngô si thãnh lão chuyết;
Niên trừ lạo cụ đổ xuân quang.

(Thời gian trôi đi biến ta từ đứa trẻ ngốc nghếch thành lão già vụng về; trời đất hết bão lụt, lại thấy mùa xuân sáng sủa).

Năm Ất Mùi 2015, cháu gái nội đẻ, cụ có ba chắt, nhà thêm vui ấm, cụ có đôi câu đối bình dị mà ấm áp tình đời:

Chín mươi mốt tuổi ngỡ là già; so với Lão Bành còn trẻ chán;
Ba trăm sáu chục vòng mới tới, vui vầy cháu chắt ấm nhà xuân.

Ngoài câu đối, cụ Bách còn có những bài thơ đặc sắc. Cụ viết thơ không để đăng báo; cũng không hẳn để chơi. Đọc thơ cụ, thấy thời đại được phản ánh một cách sâu sắc qua những hình ảnh chân thực và tiêu biểu; qua thái độ của một người không bi quan nhưng cũng mang những nỗi buồn lớn, những tâm sự lớn; không né tránh, xu nịnh.

Nguyễn Văn Bách là một trí thức, người đã tham gia dịch, hiệu đính bộ sách “Y tông tâm lĩnh” của Lê Hữu Trác; là tác giả của “Thuốc hay, tay đảm” đã tái bản nhiều lần. Người trí thức dưới chế độ XHCN, trong hoàn cảnh chiến tranh, cùng chịu chung cảnh nghèo khó với đồng bào mình, nhưng kém tháo vát hơn trong xoay xở cuộc sống nên thường cám cảnh hơn.

Khi về hưu, ngẫm nghĩ lại cuộc đời, cụ viết: Bài xưa học không thuộc/ Bài nay học không trôi/ Đường đời mãi lặn lội/ Quên mình ngoài sáu mươi/ Ngồi dai khiến người chán/ Thôi, ta về đi thôi/ Đã thề nguyện quạt mo chi nhất cái/ Học Thầy Bờm nhi cười khì hòn xôi/ Khi nhàn mượn chén cho vui/ Ngâm câu thơ quạt gửi cười gió mây.

Với bản thân mình thì có thể ung dung, tự bằng lòng; nhưng với xã hội thì không thể thoái thác trách nhiệm công dân. Nhiều khi chúng ta đồng nhất tiếng nói phản biện tích cực với sự bất mãn, nói xấu chế độ; có khi còn chụp mũ, quy kết chính trị. Bởi thế, tiếng nói phản biện xã hội trong văn học, trong báo chí yếu ớt trong một thời gian dài; làm cho cái xấu ngang nhiên tồn tại; thậm chí trị vì ở nhiều nơi.

Năm 1971, cụ Bách có một bài thơ Đường luật phản ánh hiện tượng ở một nơi mình làm việc. Một đồng nghiệp là cụ Nguyễn Lê, cậu của đồng chí Trường Chinh rất thích; có đưa cho đồng chí Trường Chinh xem. Những tiếng nói thẳng thắn như vậy đã giúp Trung ương suy nghĩ và có kế hoạch xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn xã hội tốt hơn: Pháp chẳng nghiêm minh, luật chẳng hành/ Lộn mù trật tự nát như canh/ Dối trên chi chít gian Tần Cối/ Lừa dưới vô vàn bợm Sở Khanh/ Phè phỡn hả hê lòng bội bạc/ Đắng cay vò xát dạ trung thành/ Bàng hoàng chợt tỉnh đêm tăm vắng/ Nghĩ nỗi đường xa những giật mình…

Cuộc sống bao giờ cũng có những phần nổi, những phần chìm. “Phù phù tại thượng, trầm trầm tại hạ”. Có biết bao giá trị quý giá ẩn tàng trong nhân dân, bền vững cùng non sông đất nước. Những người như cụ Bách là một phần ẩn tàng ấy.

Tôi tin những trước tác của cụ Bách, nhiều thiên sẽ trở thành cổ điển, được người đời lưu giữ.

Hà Nội, Xuân 2017

Nguyến Sĩ Đại

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.