Có hai ca khúc phổ bài thơ “Thời hoa đỏ”

Lâu nay, những người yêu âm nhạc đều biết rõ và dành nhiều cảm tình cho ca khúc “Thời hoa đỏ” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng, phổ bài thơ cùng tên của nhà thơ Thanh Tùng. Những ngày gần đây, tôi, người viết bài này cầm đàn hát bài hát “Thời hoa đỏ” của một tác giả khác dưới cái tên Nguyễn Đăng Vũ cũng phổ bài thơ này rồi đưa clip lên trang Facebook của mình.

Tuy giọng hát của tôi không được khá lắm, nhưng tôi cố gắng hát đúng theo bản nhạc của tác giả. Sau đó, bạn bè Facebook của tôi xôn xao hỏi đủ thứ về tác giả, về chuyện bài hát của Nguyễn Đình Bảng có trước hay bài của Nguyễn Đăng Vũ có trước, thời gian ra đời của mỗi bài hát ấy từ khi nào? Có người giàu trí tưởng tượng lại đẩy câu chuyện đi xa hơn, nghĩ đến bản quyền này nọ…Tôi cũng phải trả lời khá nhiều về câu chuyện này, cả trên comment, cả qua điện thoại và nhất là mỗi khi gặp gỡ…

2.jpg -0
Từ trái qua: Tác giả bài viết, ông Nguyễn Đăng Vũ và nhà thơ Mai Nam Thắng.

Nay tôi xin thưa chuyện này một lần cho rõ. Chả là tôi và Nguyễn Đăng Vũ cùng theo học hệ Sau đại học, ngành văn học tại Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội vào những năm 1987-1990. Vũ học trước tôi một lớp. Ngày ấy, phong trào văn nghệ của Khoa Ngữ văn rất mạnh, chủ yếu là các bạn sinh viên. Tuy nhiên, để tăng cường lực lượng thêm hùng hậu, các thầy trong khoa vận động các anh/chị (có khi được các em sinh viên gọi là cô/chú) sau đại học tham gia cùng. Riêng trong hệ Sau đại học (sau này mới gọi là Cao học), chúng tôi có một nhóm bạn làm văn nghệ tương đối độc lập, gặp gỡ nhau thường xuyên, tổ chức nhiều cuộc sinh hoạt văn nghệ (chủ yếu là do phần lớn mọi người ở trong ký túc xá của trường nên có nhiều thời gian rỗi). Có khi tổ chức đêm thơ. Khi khác là đêm hát. Có khi lại là đêm khiêu vũ…

Chúng tôi cùng mấy cây thơ và giọng hát sinh viên đi tham gia CLB thơ sinh viên của một số trường đại học nổi tiếng lúc bấy giờ: Đại học Tổng hợp (nay là Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn), Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Mỏ địa chất… Trong CLB thơ của Khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm Hà Nội ngày đó, nổi lên trong giới sinh viên những gương mặt Kim Anh, Trúc Anh, Ngân Hoa. Và cũng nổi lên trong cánh sau đại học là Thế Sinh, Châu Hồng Thủy, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Vũ, Trương Thị Nhàn, Nguyễn Cư và nhiều người khác. Lại có thêm nhà thơ nổi danh lúc bấy giờ tuy đang dạy trên Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (Xuân Hòa) nhưng gia đình lại ở tại khu tập thể của trường cũng tham gia cùng…

Kể dài dòng một chút như vậy để muốn nói rằng cái không khí văn nghệ ngày đó ở Hà Nội nói chung và trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng lúc nào cũng được duy trì, được nuôi dưỡng cảm xúc và tỏa sáng. Bài hát phổ nhạc thơ Thanh Tùng mang tên “Thời hoa đỏ” của Nguyễn Đăng Vũ ra đời trong cái không gian văn chương và âm nhạc đó. Thời gian chính xác mà tác giả Nguyễn Đăng Vũ sáng tác bài hát này được ghi trong bản nhạc là “Hà Nội, cuối tháng 5, đầu tháng 6/1987”.

Ngày đó, mấy đứa chúng tôi gồm cả nam và nữ thỉnh thoảng hay hát một số bài của các nhạc sĩ được yêu thích, và cả những ca khúc do chính chúng tôi sáng tác, trong đó có bài hát này. Chúng tôi hát say sưa, lòng rất ngưỡng mộ tác giả Nguyễn Đăng Vũ và nhà thơ Thanh Tùng. Bài hát được cất lên với giai điệu như cắt cứa, day dứt, hoài nhớ về những tháng ngày tuổi trẻ đã qua, những cảm xúc của tuổi cấp ba, tuổi sinh viên nhiều mộng mơ nhưng cũng lắm dại khờ, vấp ngã… Lúc bấy giờ, nhiều sinh viên Trường Sư phạm, nhất là sinh viên văn khoa hầu như đều biết bài hát “Thời hoa đỏ” của Nguyễn Đăng Vũ.

1.jpg -0
Bản thảo ca khúc "Thời hoa đỏ" của Đăng Vũ sáng tác năm 1987 còn giữ được.

Năm 1989, cánh sau đại học kẻ trước người sau ra trường, tỏa về mọi miền Tổ quốc làm nghề dạy học. Riêng Nguyễn Đăng Vũ về Quảng Ngãi quê anh rồi đầu quân cho Sở Văn hóa trong tư cách nghiên cứu viên. Do gánh nặng mưu sinh và công việc cuốn đi, cộng với ngày ấy thông tin đang còn rất khó khăn, không dễ liên lạc như bây giờ, chúng tôi bặt tin nhau một thời gian rất dài, những tưởng lạc nhau mãi mãi…

Tôi nhớ, quãng năm 1989 - 1990, vào một buổi chiều, đang đạp xe từ Bờ Hồ về Cầu Giấy, nơi tôi đang công tác tại Học viện Báo chí và tuyên truyền, bỗng nghe thấy bài hát “Thời hoa đỏ” vang lên trên loa công cộng. Tôi ngờ ngợ, cho xe chậm lại. Tôi dừng xe sát mép đường dưới chân cột điện để nghe trọn vẹn bài hát, lòng dâng nên nhiều nỗi niềm xao động. Đó là “Thời hoa đỏ” của Nguyễn Đình Bảng. Bài hát này ra đời đã ngay lập tức chiếm trọn cảm tình của những người yêu âm nhạc. Khắc khoải. Da diết. Hoài niệm. Buồn mà sáng, không bi lụy. Lại được những giọng hát nổi tiếng lúc bấy giờ thể hiện như Lệ Thu, Đức Long, Thái Bảo, nên bài hát mau chóng vang xa.

Tôi không phải là người chuyên tâm lĩnh vực âm nhạc. Phàm những ai thích đàn hát thường phải có hội đoàn. Trong khi đó, cái nhóm của chúng tôi giờ đã “tan đàn xẻ nghé”. Tôi cũng ít cầm đàn, ít hát đi. Bài hát “Thời hoa đỏ” của Nguyễn Đăng Vũ cũng chẳng mấy khi được hát lại. Trong khi đó, bài của Nguyễn Đình Bảng thấy nơi nơi: Trên tivi, trên sân khấu, trong các giảng đường, trong những đêm hội diễn... Bài hát của Vũ chìm khuất dần như một hoài nhớ xa xôi.

Khoảng dăm bẩy năm trở lại đây mới sẵn điện thoại di động, email, Facebook… Chúng tôi dần dần theo những cách nào đó lại tìm đến/thấy nhau. Lắm khi bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm thời sau đại học. Trong những lúc “mây chiều gió sớm”, tôi bỗng nhớ một số bài hát mà chúng tôi hay hát thời đó, trong đó có ca khúc này của Vũ. Tôi gọi điện bảo Vũ chịu khó tìm lại bản nhạc bài hát ấy, bây giờ tôi cũng chỉ nhớ lơ mơ thôi... Nói thì nói vậy, nhưng chờ mãi cũng không thấy Vũ thông tin gì. Vừa rồi, vào một ngày đẹp trời bỗng Nguyễn Đăng Vũ gọi điện cho tôi khoe đã tìm ra bản nhạc bài hát này và một số bài hát khác của anh và bạn bè sáng tác, rồi anh chụp lại gửi cho tôi. Mừng quá… Tôi cầm đàn, đọc lại bản nhạc, rất nhanh lấy lại giai điệu bài hát của Vũ. Hát lên để nhớ về bạn bè thuở ấy…

Bây giờ, bình tĩnh lại mới tra tài liệu về bài hát “Thời hoa đỏ” của Nguyễn Đình Bảng thì thấy bài hát ra đời vào năm 1989, trong những ngày anh đi dự trại sáng tác bên Liên Xô lúc bấy giờ. Chuyện này anh đã nói trong bài "Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng: Trải lòng về “Thời hoa đỏ”" (của nhà báo Thảo Duyên, đăng trên Văn nghệ công an).

Cả hai bài hát của Nguyễn Đăng Vũ và Nguyễn Đình Bảng đều soạn cho giọng chủ là giọng thứ với sắc thái chậm rãi, da diết. Do dẫn dắt và gợi ý của lời thơ, một số câu nhạc ở phần đầu trong hai bài hát khá giống nhau về giai điệu và tiết tấu. Càng về sau, cách xử lý của bản Nguyễn Đăng Vũ và bản của nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng càng khác nhau: Bản của Vũ đau đớn, tê tái hơn; bản của Nguyễn Đình Bảng da diết, khắc khoải, thanh thoát hơn; bản Vũ có sử dụng một quãng trưởng rồi trở về thứ; bản của Nguyễn Đình Bảng giữ giọng thứ toàn bài… Mỗi một bài hát tuy có đôi chỗ gặp gỡ nhau nhưng do xử lý kỹ thuật và mỹ cảm có phần khác nhau nên đã tạo ra những hiệu quả nghệ thuật khác nhau, và nhờ đó, mang những vẻ đẹp khác nhau.

Khi tôi đưa bài hát của Vũ do tôi hát lên Facebook, nhà thơ Văn Công Hùng (vốn là bạn Đại học Tổng hợp Huế cùng với Nguyễn Đăng Vũ ngày trước) có comment và “gọi” chị Lan Hương, con gái nhà thơ Thanh Tùng vào nghe. Chị rất vui và có lời comment với tôi rằng: “Em vừa nghe ạ, bố em nói thơ là nhạc, trong thơ có nhạc. Giai điệu bài hát và ca từ thể hiện rất hay ạ!”.

Kể thêm một chi tiết vui vui. Trong bản nhạc của Nguyễn Đăng Vũ, ở phần kết, anh thêm một câu nhạc với ca từ: “Ơi màu hoa quê hương với muôn vàn yêu thương” hơi bị lạc điệu so với toàn bài. Tôi hiểu, ngày đó do chúng tôi được dạy dỗ quá kỹ về tinh thần “yêu, căm, chiến, lạc” trong văn nghệ, nên khi bài hát đã dừng được rồi, anh lại cố thêm câu kết ấy để “yên tâm”… Khi hát, tôi đã bỏ hẳn câu cuối này, và kết thúc ở câu: “Không có anh trong bài hát ấy/Chẳng buồn đâu mà chỉ tiếc thay/Em không đi trọn những ngày đắm say”...

Vâng, nhà thơ Thanh Tùng nói đúng. Cái hay của bài thơ này vốn đã tràn đầy nhạc tính đến nỗi ai đọc nó cũng muốn ngân nga lên một giai điệu nào đó. Nếu ai được nghe cả hai bài hát này sẽ hiểu ra đó là sự kỳ diệu của thơ ca, đó còn là những cảm nhận giai điệu sâu sắc và tinh tế của hai tác giả; đồng thời cũng thấy cái cách xử lý của nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng, muốn nói gì thì nói vẫn chắc tay hơn. Thì một tay viết nhạc tài tử và một người làm nhạc chuyên nghiệp không khác nhau mới lạ! Với riêng tôi, tôi yêu cả hai bài hát này…

Văn Giá

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.