Chuyện trăm năm của nhạc sĩ Trần Hoàn

Cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như đời sống riêng tư của nhạc sĩ Trần Hoàn có nhiều chuyện thú vị không dễ ai cũng có thể biết, trong đó chuyện ông lấy vợ rồi tiếp theo là cuộc sống vợ chồng cũng khá đặc biệt. 

Trần Hoàn (1928-2003) là một trong những gương mặt sáng giá của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, tác giả của những bài hát nổi tiếng được công chúng rất ưa thích: "Sơn nữ ca", "Lời người ra đi", "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví giặm", "Thăm bến Nhà Rồng", "Lời Bác dặn trước lúc đi xa", "Một mùa xuân nho nhỏ", "Tình ca mùa xuân", "Lời ru trên nương", "Về Đồng Lê"...

Ông còn là nhà quản lý văn hóa, văn nghệ với nhiều cương vị: Trưởng Ty Văn hóa Hải Phòng, Trưởng ty Thông tin Bình -Trị - Thiên, Trưởng ban Tuyên huấn rồi Phó bí thư Thành ủy Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin - Việt Nam, Phó trưởng Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam.

Cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như đời sống riêng tư của nhạc sĩ Trần Hoàn có nhiều chuyện thú vị không dễ ai cũng có thể biết, trong đó chuyện ông lấy vợ rồi tiếp theo là cuộc sống vợ chồng cũng khá đặc biệt.

Cú sét ái tình

Mùa hè năm 1949, Trần Hoàn 21 tuổi, công tác ở Sở Thông tin Tuyên truyền Liên khu 4, đóng ở làng Xuân Trường, xã Xuân Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nơi đây có cô gái tên Thanhh Hồng, 20 tuổi, công tác ở Hội Phụ nữ huyện Thanh Chương. Cuối tuần cô Hồng về nhà mình ở làng Xuân Trường, thấy cán bộ Sở Thông tin Truyền thông ở khắp các nhà dân (hồi đó, cán bộ ở như thế này chứ không dựng lán trại vì có thể luôn phải thay đổi địa điểm).

Vợ chồng nhạc sỹ Trần Hoàn thời trẻ.
Vợ chồng nhạc sỹ Trần Hoàn thời trẻ.

Trần Hoàn ở nhờ nhà ông cậu của Thanh Hồng tên là Lược nên đã được nghe ông kể về đứa cháu gái mình đang là một cán bộ trẻ rất có triển vọng ở Hội Phụ nữ huyện. Ông nói với Trần Hoàn sẽ giới thiệu cháu mình cho chàng cán bộ trẻ mà ông rất quý mến.

Trần Hoàn sau này cho biết lúc ấy, ông chỉ vâng dạ cho phải phép chứ không nghĩ sẽ lấy vợ nông thôn vì mình sống ở thành thị sẽ không thể phù hợp. Cũng bởi vì chàng nhạc sỹ trẻ mới chỉ nghe ông Lược nói về Thanh Hồng chứ chưa biết mặt. Anh chàng không thể nghĩ cô lại xinh đẹp ngoài sự hình dung.

Khi đó Trần Hoàn là đảng ủy viên của Sở, được phân công phụ trách công tác dân vận - một công việc rất quan trọng đối với các cơ quan đóng ở nhà dân. Mẹ của Thanh Hồng tên là Thiệng - đảng ủy viên của xã cũng phụ trách công tác này ở địa phương. Trần Hoàn cần phối hợp với bà để bàn công tác, trong đó có việc tổ chức các buổi sinh hoạt văn nghệ và nói chuyện tình hình thời sự để tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ của Sở với dân. Buổi gặp gỡ sau đó diễn ra.

Cô Hồng đi theo mẹ đến gặp chủ nhà có việc gì đó. Gặp được bà Thiệng nhưng Trần Hoàn đã nhanh chóng phát hiện cô con gái của bà đi rất nhanh vào dãy nhà ngang. Và chàng vô cùng sửng sốt trước vẻ đẹp tự nhiên, không một chút tô vẽ mà duyên dáng, hồn hậu, đậm đà của cô huyện ủy viên mới có 20 tuổi.

Vậy là hình ảnh Thanh Hồng đã lọt vào mắt chàng Trần Hoàn 21 tuổi từ giây phút đó. Cuộc làm việc với bà mẹ kết thúc nhanh chóng. Hai mẹ con bà ra về rồi mà Trần Hoàn vẫn cứ ngẩn ngơ nhìn theo họ. Rồi những ngày sau đó, chàng luôn nghĩ về cô gái mình mới nhìn thấy nhưng chưa tiếp xúc. Chàng nhớ lại lời ông cậu của cô hứa sẽ giới thiệu cho mình mà lòng dạ khấp khởi, nao nao. Vậy là một "cú sét ái tình" đã nổ ra, tất nhiên là ở phía Trần Hoàn, chứ Thanh Hồng lúc ấy vẫn chưa để ý gì, vẫn chưa biết trên đời này có một chàng nhạc sỹ trẻ đã mê mình để rồi định mệnh gắn chặt mình với chàng suốt chặng đường đời dài còn lại.

Trần Hoàn nóng lòng muốn tiếp xúc với Thanh Hồng nhưng vẫn chưa nghĩ ra được cách nào thì anh Trung là con ông Lược dẫn đến thăm bà Thiệng. Đúng lúc bà đi vắng, chỉ có Thanh Hồng ở nhà. Đến phút này, cô mới nhìn thấy Trần Hoàn mà trước đó chỉ nghe mẹ mình nhắc đến. Buổi gặp gỡ đó diễn ra nhanh chóng vì vừa có người anh họ, vừa là lần đầu tiên nên hai người rất ngần ngại, không biết nói chuyện gì. Nhưng Trần Hoàn thì theo đuổi hình bóng cô Hồng và sau này nói rằng lần ấy ông đã xua đi được ý nghĩ rất sai lầm rằng mình không thể hợp với gái nông thôn.

Sau đó, cứ mỗi dịp cuối tuần, Thanh Hồng từ Hội Phụ nữ huyện về nhà là Trần Hoàn lại cùng một anh bạn nữa đến chơi. Từ đó, cô nảy nở tình yêu với chàng nhạc sỹ lịch thiệp, hào hoa phong nhã, làm công tác dân vận rất giỏi khiến dân làng rất quý mến. Quen biết, chuyện trò nhiều lần như thế, đến mùa xuân năm 1950, Trần Hoàn chính thức "đặt vấn đề".

Gần đây, bà Thanh Hồng - năm nay 88 tuổi - cho tôi xem lá thư đầu tiên  - mẩu giấy thì đúng hơn - Trần Hoàn gửi cho bà lần ấy với mấy dòng ngắn gọn, mộc mạc: "Hồng! Chiều nay Hoàn không rảnh, nhưng muốn nói một điều với Hồng. Nếu có thể, Hồng xuống đây nói chuyện. Không việc gì đâu mà ngại. Chào Hồng". Ngày ấy, giấy rất hiếm nên thấy ở đâu có giấy còn một mặt là cầm về dùng. Thư trên Trần Hoàn viết ở mặt sau mảnh giấy in lời kêu gọi "Toàn dân canh tác" của tỉnh Quảng Trị.

Tối hôm đó - vẫn theo bà Hồng kể - bà đang phân vân, lưỡng lự việc có nên đến gặp Trần Hoàn không thì đã thấy chàng phóng xe đạp đến. Hai người trao đổi với nhau bằng cách viết ra giấy thay lời:

- Hồng có đồng ý làm vợ nhạc sỹ không?

- Không!

- Tại sao?

- Hồng sợ giới nghệ sỹ lắm. Giá như anh không phải là nhạc sỹ.

- Nghệ sỹ không phải ai cũng giống ai. Là nhạc sỹ nhưng Hoàn cũng là một đảng viên cộng sản.

Trần Hoàn còn nói nhiều để thuyết phục Hồng, song cô vẫn chưa đồng ý. Nhưng do sự kiên trì của chàng và thấy tình cảm của mình phát triển, mối quan hệ hai người ngày càng thắm thiết nên Thanh Hồng đã chấp nhận lời cầu hôn. Và thế là mấy tháng sau, đám cưới hai người diễn ra, giản dị, đơn sơ nhưng vui vẻ, long trọng trước sự chứng kiến của hai bên cơ quan, gia đình, họ hàng.

"Lời người ra đi" - một ca khúc nổi tiếng của nhạc sỹ Trần Hoàn.
"Lời người ra đi" - một ca khúc nổi tiếng của nhạc sỹ Trần Hoàn.

Vợ chồng Ngâu

Cưới nhau xong, sau mấy ngày nghỉ, do yêu cầu công tác, Trần Hoàn phải chia tay vợ để cùng cơ quan chuyển ra vùng Xích Thổ (Ninh Bình). Từ đó, mỗi năm hai người chỉ gặp nhau được một lần vào dịp Trần Hoàn nghỉ phép. Ông phải vượt qua chặng đường quá xa xôi, đường đi lại khó khăn, chỉ có thể đạp xe vượt qua mấy trăm cây số. Cơ quan Thanh Hồng cũng phải thường xuyên di chuyển địa điểm nên do phải giữ bí mật mà Trần Hoàn tìm kiếm vợ không dễ mỗi lần về thăm.

Có lần ông phải mất rất nhiều thời gian, đến khi gặp được thì gần hết hạn được nghỉ. Lại có lần vì lý do nào đó mà Thanh Hồng không được nghỉ nên tuy vượt qua chặng đường gập ghềnh hơn 400 cây số nhưng rốt cuộc, hai vợ chồng chỉ ở bên nhau chút thời gian ngắn ngủi.

Hai vợ chồng Trần Hoàn ở tuổi 23 và 22, lại mới cưới nhau nên sự xa cách liên miên là một thử thách rất lớn, đòi hỏi nghị lực và là thước đo tình yêu. Mỗi lần gặp gỡ rất ngắn ngủi, Trần Hoàn luôn động viên, an ủi vợ. Thanh Hồng thì không tránh được những lúc giận chồng do tính toán về thăm vợ không khớp với khi bà được nghỉ. Nhưng tình thương và lòng ngưỡng mộ chồng đã khiến bà vượt qua được sự xa cách là một hy sinh lớn đối với mọi người vợ, nhất lại còn trẻ.

Chính trong thời kỳ này - sống trong xa cách, mỗi lần gặp được nhau lại vội vã, phút chia tay vô cùng bịn rịn, Trần Hoàn đã viết nên ca khúc "Lời người ra đi" nổi tiếng với những câu mở đầu chính là thực trạng của hai người khi ấy: "Một chiều anh bước đi/ Em tiễn đưa ra tận cuối đồi/ Nghe dặn lời? Rằng kháng chiến còn trường kỳ và còn gian khổ…".

Khi sáng tác, tác giả đặt tên bài là "Rằng kháng chiến còn trường kỳ và gian khổ". Về sau, bài hát lan truyền vào vùng tạm chiếm ở miền Nam. Không hiểu ai đã đổi thành "Lời người ra đi". Trần Hoàn thấy như vậy cũng gọn nên đã chấp nhận và cái tên ấy nổi tiếng đến hôm nay. Do những lần Thanh Hồng đưa tiễn chồng quá bịn rịn nên về sau, Trần Hoàn đã "rút kinh nghiệm", không muốn vợ bi lụy, buồn phiền, ảnh hưởng đến công tác mà ông đã không kéo dài những giây phút tiễn đưa, đã nhảy pê-đan đạp xe đi rất mau lẹ, cũng không ngoái lại nhìn vợ. Hồng hiểu được tâm trạng của chồng giây phút ấy.

Suốt từ những năm tháng đó cho mãi tới sau ngày giải phóng miền Nam (30-4-1975), trừ khoảng thời gian không dài Trần Hoàn làm Trưởng Ty Văn hóa Hải Phòng sau năm 1954, vợ chồng Trần Hoàn hầu như luôn sống trong xa cách, chẳng khác gì vợ chồng Ngâu. Chỉ từ năm 1976, khi ông được ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, ông bà mới thực sự sum họp. Lúc này họ đã ở tuổi gần 50.

Năm 2003, nhạc sĩ Trần Hoàn qua đời ở tuổi 75 khi ông vẫn còn rất phong độ với khả năng sáng tác còn sung mãn. Bà bị cú sốc quá lớn, vẫn còn dai dẳng đến tận hôm nay dù 14 năm đã trôi qua. Vừa mới đây, lại thêm cái chết đột ngột của người con trai khiến bà càng buồn phiền. Nhưng công việc an ủi bà là sắp xếp lại toàn bộ trước tác đồ sộ của chồng thành những thư mục ngăn nắp. Bà luôn tự hào về người chồng chẳng những tài giỏi, có uy tín lớn mà còn rất thủy chung trong suốt hơn 50 năm gắn bó, gần như luôn khiến bà tột cùng yêu thương, cảm phục.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.