Chuyến thăm Sài Gòn của thi hào Tagore

Năm 1913, thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore được giải Nobel văn chương với tập thơ “Tâm tình hiến dâng”, quen thuộc với người đọc Việt Nam là bản dịch với tựa “Thơ Dâng”. Thi ca của ông được toàn thế giới quan tâm và tìm đọc. Ông là người Á châu đầu tiên đoạt giải Nobel văn chương.

Ông là niềm tự hào chung của châu Á. Với người Việt Nam, sự tự hào đó còn đi cùng một mối đồng cảm, vì thi hào Tagore khi đó cũng đang sống trong một xứ thuộc địa. Thơ ông tha thiết với quốc gia, dân tộc, thương yêu dân nghèo.

Nhận giải Nobel Văn chương danh giá, nhưng Tagore đã bày tỏ cách ứng xử rất hiền triết phương Đông, bình thản và lặng lẽ. Ông không đến thủ đô Stockhom nhận giải mà chỉ gửi thư cảm ơn Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao giải đó cho ông.

tagore chụp năm 1929 tại sài gòn.jpeg -0
Thi hào Tagore - ảnh chụp năm 1929 tại Sài Gòn.

Hai năm sau, năm 1915, Hoàng Gia Anh đứng đầu là Vua George III tặng ông danh hiệu Hiệp sĩ. Ông nhận, nhưng 4 năm sau, vào 1919 ông đã trả lại danh hiệu để phản đối cuộc tàn sát ở Jallianwala Bagh thuộc thành phố Amritsar của Ấn Độ, Tổ quốc quê hương ông. Chỉ 10 phút nổ súng, lính Anh đã giết hơn 1.000 người và làm bị thương hơn 2.000 người không vũ khí.

Năm 1921, thi hào Tagore cùng với ông Leonard K. Elmhirt lập Viện Xây dựng nông thôn tại làng Surul với mục đích dùng giáo dục để giải thoát vùng thôn quê ra khỏi cuộc sống tăm tối. Từ đó tới 1941, khi ông qua đời, Tagore luôn bày tỏ sự quan tâm sâu sắc tới việc phá bỏ định kiến và kỳ thị giai cấp nặng nề ở Ấn Độ. Ông cũng luôn quan tâm tới sinh mạng và đời sống dân nghèo.

Thi hào Tagore có một sự nghiệp đáng nể trên mọi lĩnh vực như dịch thuật, tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, kịch, tranh, âm nhạc và thi ca. Ông là tác giả của 50 tập thơ với hơn 1.000 bài thơ và đồng thời soạn ra hơn 2.000 bài hát. “Jana Gana Mana” quốc ca của Ấn Độ và “Amar sonar Bangla”, quốc ca của Bangladesh (vốn là một phần tách ra từ Ấn Độ) đều là ca từ của Tagore soạn ra. Còn quốc ca Sri Lanca thì lấy cảm hứng từ tác phẩm của ông.

Danh tiếng thi hào Tagore còn vang vọng hoàn cầu khi ông bỏ nhiều công sức và thời gian đi thăm viếng và diễn thuyết tại các quốc gia trên thế giới. Từ năm 1878 đến năm 1932, Tagore đã đặt chân đến hơn ba mươi quốc gia trên năm châu lục. Ở Á châu ông từng đi tới Nhật, Bali, đảo Java, Kualalumpur, Malacca, Penang, Siam, Irag, Singapore và Việt Nam.

Ở Việt Nam, thi hào Tagore được biết tới lần đầu qua sự giới thiệu của chí sĩ Nguyễn An Ninh, một luật sư tốt nghiệp Sorbone của Pháp về. Theo tài liệu của tiến sĩ Dương Thanh Bình tại Úc thì “Năm 1923, Nguyễn An Ninh diễn thuyết về “Lý tưởng thanh niên” ở Hội Khuyến học Nam Kỳ, ca ngợi đường lối của Tagore trong sự tranh đấu cho độc lập tự do dân tộc. Sau đó ông viết nhiều bài báo đăng trong tờ La Cloche Fêlée (Chuông Rè) vào những năm 1923, 1924 về những chuyến đi thuyết giảng của Tagore, dịch các bài tham luận “My school” (Trường học của tôi) của thi hào Tagore về sự ủng hộ của giới trí thức Pháp đối với phong trào độc lập dân tộc của người Ấn Độ. Và từ đó, tư tưởng Tagore đã trở thành một trong những đường hướng dân tộc để trí thức Việt suy ngẫm, trăn trở. Báo chí đã dịch nhiều thơ và tác phẩm văn xuôi của ông. Tên Rabindranath Tagore vang danh trong giới trí thức, chính khách, được nhắc nhiều trong các lãnh vực khác như văn chương, giáo dục…

Việt Nam đã từng một lần đón hụt thi hào Tagore vào năm 1924, khi Tagore ghé thăm Hong Kong và có ý định tới thăm Việt Nam. Lúc đó báo chí trong nước đã đưa tin báo và thậm chí các ban bệ chuẩn bị đón tiếp thi hào đã được thành lập. Tuy nhiên sau đó Tagore không tới được như dự tính, vì sức khỏe không tốt. Năm đó ông đã 64 tuổi.

Các báo ở ta lúc đó vẫn tiếp tục đưa tin về hoạt động của ông trên thế giới cũng như in thơ ca của ông. Một buổi thuyết trình riêng về thi hào Tagore đã được tổ chức tại Sài Gòn do Giáo sư Kalidas Nag đảm nhiệm, nói về thi ca và về lý tưởng giáo dục của Tagore, cổ vũ cho dự tính thành lập một trường đại học quốc tế trên quê hương của Tagore.

Năm 1927, một cơ may tới. Một nhà báo xuất sắc của Việt Nam thời đó là ông Hoàng Tích Chu, ban đầu làm cho Nam Phong tuần báo của Phạm Quỳnh, sau làm chủ bút của Hà Thành Ngọ Báo và Đông Tây Nhật Báo. Ông Hoàng Tích Chu từng qua Pháp học cách làm báo và đi qua đi lại vài lần. Trong lần này tàu chở ông Hoàng Tích Chu từ Pháp về Việt Nam có ghé Colombo đón đại thi hào Tagore.

Cơ hội bằng vàng. Rất nhanh nhạy, ông Hoàng Tích Chu cùng trên một chuyến tàu, đã xin diện kiến và phỏng vấn Tagore.

Ông về viết ngay một bài đăng trên tờ Éco Annamite ngày 2 tháng 8 năm 1927. “Linterview de Rabindranath Tagore, à bord de lAmboise” (Bài phỏng vấn Rabindranath Tagore trên tàu Amnoise). Nội dung bài trao đổi về chủ nghĩa đế quốc - thực dân và quyền tự do của con người.

Ông Hoàng Tích Chu lần này cũng đã cho một thông tin quý báu là thi hào Tagore sẽ tới Đông Dương để thăm thú những di tích lịch sử, tìm hiểu văn hóa và đời sống của người dân ở đây. Phải loan báo trước, vì hồi đó đi từ châu lục này qua châu lục khác bằng tàu biển, thường cặp các hải cảng lớn ở lại vài ngày, một chuyến đi kéo dài hàng vài tháng là bình thường.

Năm 1929, Tagore đi dự hội nghị các Hội đồng giáo dục Quốc gia ở Vancouver, Canada. Trở về ông ghé thăm Nhật một tháng ròng. Hay tin ông tới Nhật, tòa đại sứ Pháp ở đó mới tới xin gặp và trân trọng mời thi hào ghé thăm Đông Dương. Thi hào nhận lời và cũng nói thêm ý định của ông là muốn ghé thăm Angkor Wat.

Báo chí ta lại được một phen đưa tin rầm rộ, dồn vào việc chuẩn bị đón thi hào tới Việt Nam qua ngả Sài Gòn trên tàu Angers hãng Compagnie des Messageries Maritimes từ Nhật qua Việt Nam. Thi hào sẽ ở lại chỉ 3 ngày.

Ban đầu Tagore được bố trí ở tại khách sạn Continental (trên đường Đồng Khởi hiện nay). Nhưng sau đó nơi ông ở được dời tới căn nhà rất đẹp tại tại góc đường Legrand de la Liraye và rue Barbet (nay là Điện Biên Phủ – Lê Quý Đôn). Đây là nhà của ông Diệp Văn Giáp, Ủy viên Hội đồng Quản hạt Sài Gòn. Ông Giáp hồi ấy giàu lắm, tài sản ruộng đất trải khắp miền Nam.

Thành viên của Ban đón tiếp thi hào gồm đại diện chính quyền thuộc địa tại Nam Kỳ, Hội đồng quản hạt thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, đại diện các phòng Thương mại và phòng Canh nông, chủ bút, hay ký giả đại diện của tất cả các báo. Về các sắc dân thì có đại diện người Việt, người Pháp, người Hoa, người Ấn tại Sài Gòn, Chợ Lớn khi đó cùng có mặt trong ban bệ. Vì thi hào dùng tiếng Anh và tiếng Bengal nên có riêng một ban phiên dịch.

Báo chí rầm rộ loan tin. Ngày 21/6/1929, thi hào Tagore chính thức tới Sài Gòn.

Thị trưởng Sài Gòn là ông Bziat và đại diện Thống đốc Nam Kỳ lên tàu chào đón Tagore rồi mời ông về nhà ông Giáp nghỉ ngơi. Có một đám đông lớn của dân Sài Gòn - Chợ Lớn thời đó đã đi đón ông. Báo La Tribune Indochinoise còn tổ chức một buổi mít tinh ở bến cảng để chào mừng thi sĩ Tagore. Tờ Hà Thành Ngọ Báo của ông Hoàng Tích Chu cập nhật thông tin về chuyến đi của Tagore trong từng ngày.

Ngày 22/6/1929, thi sĩ Tagore có buổi nói chuyện ra mắt công chúng tại Nhà hát Lớn. Sau đó, ông ghé thăm Lăng Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định. Trước đó ông có ghé thăm Trường Mỹ thuật Biên Hòa. Chiều thì Tagore đến nhà in của ông Nguyễn Văn Của và dự tiệc. Thay vì uống rượu champagne, ông xin được uống nước dừa và tò mò xem bộ sưu tập đồ cổ của Nguyễn Văn Của.

Sau đó thi hào ghé thăm Báo Phụ nữ Tân văn, dự buổi tiếp tân của Phòng Thương mại người Hoa ở chùa Bà của người Quảng Đông tại Chợ Lớn trên đường Cây Mai (nay là đường Nguyễn Trãi). Trước khi lên đường về nước, Tagore dự buổi đàm đạo uống trà với Thống đốc Pierre Pasquier và các ủy viên trong ủy ban Pháp, Việt, Ấn Độ vừa lập ra để tiếp đón thi hào. Ông có bài nói chuyện về thi văn và cảnh thanh tịnh ở các ngôi chùa Phật giáo.

Tới Sài Gòn, thi sĩ không mặc quốc phục Ấn hay đồ tây mà mặc một bộ cánh Việt Nam thời đó đi bát phố. Ổng bận áo dài đen, quần trắng, đầu đội mũ nhung đen, mắt đeo kiếng. Khi đó đại thi hào đã 68 tuổi. Tagore không đi Angkor Watt được vì sức khỏe không cho phép.

Sau thi hào Tagore ta còn đón 2 văn hào nhận giải Nobel văn chương tới thăm nữa là ngài John Steinbeck và García Márquez. Các báo trên cả nước năm ấy được dịp tha hồ đăng bài tường thuật chuyến thăm và in thơ cũng như truyện ngắn dịch ra tiếng Việt của thi sĩ Tagore. Càng về sau này, các tác phẩm của thi hào Tagore lại càng phổ biến rộng rãi ở Việt Nam.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.