Chuyện nối nghiệp ca trù ở Ngãi Cầu

Ngãi Cầu, ngôi làng cổ thuộc xã An Khánh (Hoài Đức, Hà Nội) là một trong những làng ca trù nổi tiếng đất Bắc. Nơi đây có nhiều thế hệ đã cùng nhau gìn giữ và phát triển ca trù mà người được biết đến nhiều hơn cả là cố Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc.

Ngoài việc truyền dạy cho những ai có lòng yêu ca trù, bà còn chú tâm bồi dưỡng, động viên, khuyến khích con cháu trong nhà nối nghiệp. Công sức và tâm huyết ấy đã được đền đáp xứng đáng khi hiện nay người cháu nội của bà - ca nương Đặng Thị Hường, được biết đến như “ngôi sao sáng” của ca trù.

Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc sinh năm 1930 trong một gia đình có truyền thống ca trù ở phố Khâm Thiên (Hà Nội) và bắt đầu hát ca trù từ năm 12 tuổi tại quán ca trù của gia đình. Nhập cuộc khá nhanh, bà sớm trở thành một danh ca nức tiếng Hà Thành với giọng ngâm trong trẻo và kỹ thuật ém hơi, đổ hột điêu luyện mà tài tình. 

Thế nhưng, những ngày tháng ngày êm đềm chẳng được bao lâu thì biến cố thời cuộc đã khiến ca trù chìm vào quên lãng. Năm 1945, cao trào Cách mạng Tháng Tám hừng hực, ca nương trẻ tạm quên nhịp trống tiếng phách để tham gia đội văn công tuyên truyền. Đến năm 20 tuổi, gia đình bà chuyển hẳn về Ngãi Cầu sinh sống. Cuộc sống bộn bề lo toan bà vẫn không quên tiếng hát gia truyền. 

Bẵng đi đến năm 1995 Nhà nước chủ trương phục hồi ca trù là thời điểm hạnh phúc nhất đối với bà bởi từ đó bà được thoải mái hát ca, truyền dạy cho lớp sau.

Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc truyền dạy cho các học trò (ca nương Đặng Thị Hường ngồi ngoài cùng bên phải).
Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc truyền dạy cho các học trò (ca nương Đặng Thị Hường ngồi ngoài cùng bên phải).

Sinh thời, bà là người luôn nặng lòng với việc truyền dạy ca trù. Bà đã cùng với nghệ nhân Chu Trí Cang thành lập Câu lạc bộ (CLB) ca trù Ngãi Cầu và CLB ca trù Hoài Đức với gần 40 thành viên gồm các ca nương và kép đàn nhằm giữ lại nét truyền thống cho chính mảnh đất quê hương. 

Rồi bà đã cùng đệ tử chân truyền của mình là Nghệ nhân Ưu tú Phạm Thị Huệ thành lập CLB ca trù Thăng Long (nay là Giáo phường ca trù Thăng Long) để tạo không gian cũng như môi trường truyền dạy ca trù cho lớp thế hệ kế cận. Đánh giá về cống hiến của bà, nhiều chuyên gia cho rằng bà là một trong trong số các “cây đại thụ” của nền ca trù đất Bắc, cùng với các tên tuổi Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ, Nghệ sĩ Nhân dân Phó Thị Kim Đức, Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Phú Đẹ.

Năm 2014, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc qua đời thì cũng là lúc người cháu nội - ca nương Đặng Thị Hường bước vào tuổi 20 đầy khát khao, nhiệt huyết và tràn đầy năng lượng, tình yêu ca trù. Tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng Hường đã có đến 20 năm gắn bó với ca trù. 

Sinh ra và lớn lên trong lời ru, tiếng hát của bà nội nên Hường sớm “ngấm” và gắn bó với nghệ thuật ca trù như một sứ mệnh. Nghe bà hát rồi xem bà dạy các cô, các chị và được đi nghe những đêm hát ca trù trong thôn, cô gái trẻ chăm chỉ rèn luyện, hằng ngày ghi chép lại từng câu hát, rồi học thuộc lòng, sau đó ghép tiếng hát với tiếng phách, đàn, trống.

Ở ca nương Đặng Thị Hường người ta thấy có đủ hai yếu tố cơ bản để học ca trù, đó là năng khiếu hát và khả năng thẩm âm tốt, hơn nữa lại chăm chỉ, được kèm cặp thường xuyên nên cũng giống như bà năm 12 tuổi Hường đã đứng trên sâu khấu. Thế nhưng vì ca trù không đào tạo ở bậc cao đẳng, đại học nên khi tốt nghiệp phổ thông Hường đã theo học sư phạm âm nhạc ở Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. 

Ra trường trở thành cô giáo dạy âm nhạc tại Trường THCS Đông La (huyện Hoài Đức), Hường luôn tâm niệm, phải làm sao khơi dậy được trong các em học sinh tình yêu với âm nhạc nói chung, âm nhạc truyền thống nói riêng và đặc biệt là ca trù. Bởi thế đan xen trong các tiết học, cô giáo Hường đã thường xuyên giới thiệu đến học trò cái hay, cái đẹp trong ca trù cũng như văn hóa sâu xa trong lời ca, nhịp phách. Phương pháp dạy ấy đã được nhà trường đánh giá cao.

Hiện nay, ca nương Đặng Thị Hường đang sinh hoạt tại Giáo phường ca trù Thăng Long với nhiều hoạt động biểu diễn tại khu vực phố cổ Hà Nội. Nghệ nhân Ưu tú Phạm Thị Huệ, Chủ nhiệm Giáo phường cho biết, chị là học trò của nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc nên đã không còn lạ lẫm với ca nương Đặng Thị Hường. 

“Từ khi về học cụ Chúc, tôi đã biết đến em Hường. Khi ấy em còn nhỏ, rất nhút nhát, hát nhỏ, cụ phải động viên nhiều. Cụ Chúc đã mở lớp dạy Hường và một số bạn trẻ khác với kỳ vọng lớn lao vào tương lai của ca trù Ngãi Cầu. Hường là ca nương có tố chất, say nghề, nếu bạn ấy chăm chỉ rèn luyện cả về tâm, về nghề thì sẽ còn tiến xa”, Nghệ nhân Ưu tú Phạm Thị Huệ khẳng định.

Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc (giữa), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Phú Đẹ (trái) trong một lần hát ca trù.
Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc (giữa), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Phú Đẹ (trái) trong một lần hát ca trù.

Là người theo sát từng bước đi của ca nương Đặng Thị Hường, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu phê bình âm nhạc Nguyễn Quang Long – thành viên nhóm “Xẩm Hà thành” cho biết: “Ca nương Đặng Thị Hường may mắn được sinh ra tại một làng quê nổi tiếng với truyền thống ca trù ở ngoại thành Hà Nội, lại trong chính gia đình có truyền thống nhiều đời hát ca trù, cả lối hát cửa đình cũng như ca quán. Được tiếp xúc từ bé, sống trong “cái nôi” ca trù nên Hường sớm bén duyên và học ca trù. 

Tôi có theo dõi hành trình của Hường từ khi còn ở quê Ngãi Cầu, cho đến lúc tham gia trình diễn ở Giáo phường ca trù Thăng Long và đến cuộc thi “Ngôi sao dân ca” dành cho học sinh, sinh viên các trường chuyên và không chuyên ở Hà Nội và các tỉnh lân cận do tôi làm giám khảo, tôi thấy Hường vững vàng và chững chạc hơn theo từng ngày. Giọng hát của Hường thiên về nội tâm, qua đó dễ truyền tải tình cảm của mình gửi gắm trong câu hát đến với người nghe”.

Trong thời đại hiện nay khi mà nhiều dòng nhạc mới, dòng nhạc nước ngoài đã và đang du nhập mạnh mẽ vào nước ta thì đâu đó vẫn có những người trẻ yêu và thực sự say mê với ca trù như Đặng Thị Hường. Hường từng khẳng định, bây giờ khi bên ngoài tràn ngập pop, rock, Kpop thì với mình ca trù vẫn là thứ âm nhạc không thể nào thay thế. Và với Hường việc học ca trù như một cách thể hiện tình yêu, trách nhiệm với bà, với quê hương Ngãi Cầu và với dân tộc. 

Bởi thế trong suốt gần 20 năm qua chưa ngày nào Hường thôi cố gắng khẳng định mình trong các cuộc thi. Bằng chứng là Hường đã được nhận nhiều Bằng khen của Viện Âm nhạc Việt Nam, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội cũng như nhiều giải cao trong các cuộc thi như: giải B Liên hoan tài năng trẻ ca trù Hà Nội năm 2016, giải Nhất cuộc thi Ngôi sao dân ca năm 2017, Giải A Liên hoan Tài năng trẻ ca trù Hà Nội năm 2019…

Là người trẻ nhiều khát vọng, hoài bão, ca nương Đặng Thị Hường mong muốn quảng bá rộng rãi ca trù hơn nữa thông qua nhiều hoạt động xã hội cũng như mạng xã hội. Hường luôn tin rằng âm nhạc truyền thống vẫn có người yêu mến, vẫn có khán giả riêng, bởi thế vào những buổi cuối tuần rảnh rỗi Hường lại truyền dạy ca trù miễn phí cho các em nhỏ trong gia đình và tại địa phương. 

Có thể nói, việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển ca trù nói riêng và âm nhạc dân tộc nói chung là một bài toán không dễ có lời giải, rất cần sự chung tay của các ngành chức năng, chính quyền địa phương và nhân dân nhưng trước hết phải từ chính cái tâm của người nghệ nhân. 

Và với nỗ lực không ngừng nghỉ của nữ ca nương trẻ Đặng Thị Hường đã như chiếc “cầu nối” truyền tải cái hay, cái độc đáo của loại hình nghệ thuật mang đầy tính bác học này đến với khán giả. Chuyện nối nghiệp ấy càng khiến chúng ta tin rằng, rồi đây ca trù sẽ thực sự hưng thịnh, sẽ “vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”.

Ngô Khiêm

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.