Chuyện của nhà văn “Người không mang họ”

Không phải bỗng dưng mà nhà văn, nhà viết kịch Xuân Đức (quê Vĩnh Hòa, Vĩnh Linh, Quảng Trị) khi qua đời đã được nhiều tờ báo chạy tít rằng: Nhà văn của “Người không mang họ” đã ra đi... Dù rằng với một cây bút tên tuổi như ông thì tác phẩm vừa nêu chưa phải là đỉnh cao sáng tác của Xuân Đức.

Nguyên mẫu là một tướng cướp

Cách đây 4 năm người viết bài này đã có dịp trò chuyện với nhà văn Xuân Đức về bếp núc nghề văn, trong đó có tiểu thuyết “Người không mang họ”.

Lạ một điều trong khi hầu hết tiểu thuyết cách mạng thời bao cấp thì nhân vật chính, nhân vật trung tâm thường là chiến sĩ cách mạng trung kiên đằng này cuốn truyện lại xoay quanh cuộc đời của một tướng cướp có nhiều tên như Trương Sỏi, Hoàng Lạng, Đệ nhị mãi võ… là một tội phạm cộm cán; một người mà thân phận không rõ ràng, đến họ của mình là gì (liên quan đến người cha) cũng mơ hồ, tùy tiện? Tôi đem câu này hỏi nhà văn.

xuan duc pxd.jpg -1
Nhà văn Xuân Đức.

Theo như ông kể thì đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, có một người bà con ở xã Vĩnh Hòa báo cho ông một tin dữ: có một người đàn ông cũng quê Vĩnh Hòa làm tướng cướp vừa bị bắt ngoài thành phố Vĩnh, thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ và chắc sẽ bị tử hình. Biết thì biết vậy nhưng thời bao cấp nên đi lại cũng không dễ dàng. Nhưng nhà văn Xuân Đức vẫn nhớ về thông tin ấy và khi có dịp ông đã ra Vinh xin tiếp cận hồ sơ vụ án dù lúc đó phạm nhân đã bị tử hình.

Ông kể: “Sau khi đọc hồ sơ, tôi nung nấu ý định phải viết một cuốn tiểu thuyết lấy cảm hứng từ nguyên mẫu, nhưng thời đó nhiều điều chưa được cởi mở nên mình phải có cách viết phù hợp. Phải sáng tác nó như là một truyện hình sự hay nói nôm na là truyện vụ án về một tướng cướp còn ý đồ chính, cốt lõi của tác phẩm, đáng ra phải nhấn mạnh thì tác giả phải làm mờ đi để tránh những rắc rối có thể xảy ra trong quá trình biên tập, duyệt in. Ý đồ chính của tôi là nói về thân phận con người trong hoàn cảnh đất nước chia cắt, chiến tranh khốc liệt…”.

Năm 1983 tiểu thuyết được Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành với con số kỷ lục: 3 vạn bản in, một số lượng lớn (nói như bây giờ có mơ cũng không thấy). Năm 1990, tiểu thuyết được dựng thành phim truyện, công chiếu rộng rãi trong cả nước. Chuyện đời thực xen lẫn chuyện phim với nhiều giai thoại, suy đoán, thêu dệt râm ran trong dân gian. Nhiều tờ báo, một số đài truyền hình đã khai thác những chuyện liên quan đến “Người không mang họ” để phục vụ thị hiếu công chúng.

Tôi hỏi: “Các nhà phê bình văn học đã nói khá nhiều về tiểu thuyết này rồi. Chỉ xin hỏi chính tác giả: theo ông, điều gì làm nên thành công của tác phẩm?”. Rít một hơi thuốc lào rồi chiêu một ngụm trà theo thói quen của nhà văn, Xuân Đức tâm sự: “Chuyện tôi đưa các pha đánh đấm, kiểu như “chưởng” của Kim Dung để thu hút độc giả, hay nôm na là câu khách thì đã rõ, truyện hình sự mà. Nhưng cái chính tôi muốn phản chiếu, tái tạo nên thân phận nhân vật thông qua những biến động lịch sử. Nếu Lạng không sinh ra trong một gia đình có hoàn cảnh éo le như thế, mang tiếng là con địa chủ nhưng kỳ thực là con nông dân, bị kỳ thị, định kiến rồi vượt tuyến vào Nam trước năm 1975, dòng đời lại xô đẩy từ một thanh niên vốn thiện lương, trượt dài trên đường đời mãi võ, rồi gặp nghịch cảnh mà biến thành tướng cướp khét tiếng thì kết cục chắc rằng đã khác.

Còn như trong truyện thì kết thúc thật đáng buồn và đáng suy ngẫm. Tội ác trong truyện của anh ta thì đã rõ nhưng có lẽ người đọc vẫn thấy cảm thông cho số phận éo le, xót xa và day dứt cho nhân vật chính, bởi dù trở thành tướng cướp nhưng nhân tính cũng không phải đã mất hẳn, vẫn le lói soi chiếu tận cùng tâm hồn. Tôi thiết nghĩ chắc đã nói một điều gì đó chạm vào trái tim người đọc nên họ đồng cảm, dĩ nhiên điều đó phải từ gan ruột và mang tính nhân văn. Và cũng từ đó cần nhắc lại rằng: nếu không có chia cắt, không có chiến tranh thì chắc rằng sẽ tránh được những bi kịch như “người không mang họ”. Nhân vật sẽ có một cuộc đời đáng sống hơn”.

Số phận nổi nênh của một vở kịch

Năm 1985, Đoàn Kịch nói Quân đội nơi nhà văn Xuân Đức công tác lúc đó, giao cho ông viết một vở kịch về Bác Hồ. Ông bắt tay vào sáng tác và hoàn thành kịch bản “Cái chết chẳng dễ dàng gì” tái hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ mà trung tâm là hình tượng Bác Hồ. Cứ nghĩ mọi chuyện thông suốt nhưng bất ngờ kịch bản đã không được cấp trên chấp thuận, đành phải bỏ vào ngăn kéo.

nhà văn xuân đức ngoài cùng bên trái và nsnd kim qúy ở giữa, nsnd xuân đàm ngoài cùng bên phải, ctv.jpg -0
Nhà văn Xuân Đức (ngoài cùng bên trái), NSND Kim Quý (ở giữa) và NSND Xuân Đàm (ngoài cùng bên phải).

Khoảng hơn 5 năm sau, khi nhà văn Xuân Đức đã về công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Trị thì lại nhận được thông báo có cuộc phát động sáng tác về Chủ tịch Hồ Chí Minh do Tổng cục Chính trị - Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức. Ông nhớ lại kịch bản cũ nên định bụng đem ra xem lại để sửa chữa, bổ sung rồi tham gia.

Nhưng lạ thay, đọc đi đọc lại ông vẫn thấy không thể thay đổi, nghĩa là một thì bỏ lại vào ngăn kéo, hai là giữ nguyên. Vậy là sau khi xem xét, ông vẫn giữ nguyên rồi gửi tác phẩm tham gia. Kịch bản được 8 giám khảo chấm 8 giải A, đoạt giải nhất tuyệt đối của cuộc thi. Tiếp đó vở kịch được NSND Dương Ngọc Đức, Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, một đạo diễn gạo cội dàn dựng và đưa lên sàn diễn được công luận hoan nghênh.

Tưởng mọi chuyện qua khúc quanh co, cứ thế là xuôi chèo mát mái. Ngờ đâu…

Năm 2005, khi có cuộc vận động sáng tác, quảng bá các tác phẩm hưởng ứng “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh” đương nhiên vở kịch của Xuân Đức lại tham gia, do NSND Xuân Huyền đạo diễn. Nhưng lần này vở kịch không gặp may vì có ý kiến của một ai đó có tiếng nói trọng lượng nên bị “soi” dữ dội, dù chỉ là một vài chi tiết với những phê phán gay gắt. Có thể là do những quan niệm khác nhau từ góc nhìn cá nhân vẫn thường xảy ra với một vài tác phẩm cụ thể, mặc dù tác phẩm đó đã từng được khẳng định một cách chính thống, công khai. Chính nhà văn Xuân Đức, một người từng trải khi kể chuyện này cũng phải cảm thán: “Đúng là ở đời không ai học được chữ ngờ. Ngay chuyện sáng tác, nhiều lúc cũng thế”.

Đến nỗi khi nhớ lại, nhà văn Xuân Đức đã thốt lên: “Bị phê dữ dội, đến nỗi đạo diễn tài năng Xuân Huyền mệt mỏi, phát ốm, phải nằm dưỡng bệnh hàng tháng trời. Tôi cũng không hiểu tại làm sao một vở kịch trước đó 20 năm thì không được duyệt, sau đó lại đoạt giải nhất, rồi đến lúc ấy lại gặp nạn như thế. Tôi đã gặp một người có thẩm quyền và trình bày cho rõ ý kiến của mình. Tôi vẫn tin vào sự chân thành, trong sáng của vở kịch khi cẩn trọng xem xét lại tác phẩm của mình”.

Nhưng rồi, sau cơn mưa trời lại sáng, đến năm 2010 vở kịch lại được tiếp tục công diễn và được vinh danh. Từ đó đến nay, chất lượng nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đã hoàn toàn được khẳng định, góp phần làm nên tên tuổi Xuân Đức.

Xem thế quanh chuyện sáng tác văn học nghệ thuật cũng không hề đơn giản, như câu chuyện của nhà văn Xuân Đức.

Phạm Xuân Dũng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.