Chuyện ấu trĩ một người, chuyện ấu trĩ một thời...

"Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh (và Hoài Chân) là quyển sách tuyệt hay. Ông bạn thơ vong niên Trần Đăng Khoa của tôi xếp "Thi nhân Việt Nam" vào một trong ba quyển sách nghiên cứu, phê bình thơ hay nhất được sinh ra trong văn học Việt Nam hiện đại. Không biết Trần Đăng Khoa đã viết và nói ở đâu chưa, hay chỉ mới nói riêng với tôi?

1. Hơn nửa thế kỷ trước, lúc còn đang tuổi thiếu niên, tôi có nghe một ca khúc phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam (xin nhắc lại: phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam hẳn hoi). Ca khúc này nói đủ về công, nông, binh (công: công nhân, nông: nông dân, binh: bộ đội), trong đó, có những câu, những đoạn như thế này, chỉ nghe qua một lần là nhớ! Bây giờ, những người trẻ tuổi - mà không chỉ những người trẻ tuổi - nghe thấy, chắc không ai không bật cười, và khó có thể tưởng tượng được rằng sao lại có thể có một ca khúc thô thiển đến mức ấy. Ba đoạn của ca khúc thế này:

- "Sáng hôm nay, anh tôi vác cuốc, vác cuốc ra thăm đồng... Anh cuốc như thế này rồi như thế kia... như thế này rồi như thế kia..." (nói về nông dân).

- "Sáng hôm nay, anh tôi vác súng, vác súng ra thao trường... Anh bắn như thế này rồi như thế kia... như thế này rồi như thế kia..." (nói về bộ đội).

- Sáng hôm nay, anh tôi vác búa, vác búa lên công trường... Anh đánh như thế này rồi như thế kia... như thế này rồi như thế kia..." (nói về công nhân).

Nhà văn Hòa Vang.
Nhà văn Hòa Vang.

Gần hai chục năm trước, có lần cùng các bạn văn đi viết ở Nhà sáng tác Đại Lải (Vĩnh Phúc) của Bộ Văn hóa - Thông tin, ngồi trên xe, nhà văn Hòa Vang (1946 - 2006) hát lại bài này, mà không bình luận gì. Anh bổ sung một đoạn, cho ca khúc có đủ cả công, nông, binh, trí thức:

- "Sáng hôm nay, anh tôi vác bút, vác bút lên văn đàn... Anh viết như thế này rồi như thế kia... như thế này rồi như thế kia...".

Mọi người trên xe ôm bụng cười, cười nghiêng ngả, đến nỗi không biết xe đã đến cổng Nhà sáng tác Đại Lải từ bao giờ!

Tôi đã từng có ý định hỏi một nhà nghiên cứu âm nhạc hoặc một nhạc sĩ kỳ cựu xem tác giả ca khúc kia là ai. Nhưng, cho đến nay, hoặc chưa có dịp, hoặc gặp dịp rồi thì lại quên mất, không hỏi. Tuy nhiên, có lẽ cũng chẳng cần thiết phải hỏi. Cái ấu trĩ đến mức ấy, thậm chí còn ấu trĩ hơn thế, xưa nay, đâu có thiếu!

2. "Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh (và Hoài Chân) là quyển sách tuyệt hay. Ông bạn thơ vong niên Trần Đăng Khoa của tôi xếp "Thi nhân Việt Nam" vào một trong ba quyển sách nghiên cứu, phê bình thơ hay nhất được sinh ra trong văn học Việt Nam hiện đại. Không biết Trần Đăng Khoa đã viết và nói ở đâu chưa, hay chỉ mới nói riêng với tôi?

Tôi vốn thích "Thi nhân Việt Nam" từ hồi còn đang tuổi thiếu niên, sau đó là tuổi thanh niên - dù mới chỉ được đọc một số trang ít ỏi trong đó. Nhưng hồi bấy giờ (vào những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Mỹ) sách văn học viết và xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám gần như bị cấm kỵ. Kể cũng có phần nào là đúng. Bấy giờ, tất cả phải tập trung vào những chuyện trọng đại của đất nước. Mà những quyển sách xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám như "Thi nhân Việt Nam" lại đề cập nhiều những thứ riêng tư (của phong trào Thơ mới).

Quyển "Thi nhân Việt Nam" tôi được đọc lần đầu tiên, từ trang đầu đến trang cuối, là quyển in rônêô của Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong những năm kháng chiến chống Mỹ (chắc do nhà trường in rất ít để thầy giáo và sinh viên tham khảo). Lại càng thích thú, thích thú hơn cảm giác lần đầu mới chỉ đọc ít trang, ít đoạn trong đó.

Hình như, khá lâu sau cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, "Thi nhân Việt Nam" mới chính thức tái bản (ở miền Bắc). Tuy nhiên, tôi có dịp được tiếp xúc với quyển sách này sớm hơn. Bấy giờ là năm 1977. Một người bạn đi công tác ở thành phố Hồ Chí Minh, mua ở cửa hàng sách cũ đem ra tặng tôi quyển "Thi nhân Việt Nam" do Nhà xuất bản Thiều Quang in năm 1967.

Khỏi phải nói, tôi quý quyển sách thế nào. Một ngày đẹp trời, tôi đem quyển sách đến gặp nhà phê bình Hoài Thanh (bấy giờ Hoài Thanh ở với con trai ở phố Trần Quốc Toản, Hà Nội) để xin chữ ký của ông làm kỷ niệm (hồi ấy, tôi chưa quen tác giả "phụ" của quyển sách là Hoài Chân, em trai Hoài Thanh). Tôi tưởng Hoài Thanh sẽ mừng lắm, khi thấy quyển sách của mình in ở Sài Gòn. Nhưng thật bất ngờ, Hoài Thanh cầm quyển sách tôi đưa một cách... vô cảm. Ông đặt xuống, nhặt lên mấy lần mới miễn cưỡng ký cho một cái tên rồi chẳng hề nói gì!

Tôi có cảm giác mình vốn có "duyên nợ" với Hoài Thanh từ lúc còn tuổi thiếu niên: đã từng nghe ông nói chuyện thơ ở thành phố Nam Định năm 1960, đã từng viết thư cho ông lúc mới 17 tuổi, có lẽ ông có đôi chút... nể nang (hay ưu ái) mới miễn cưỡng mà ký, chứ với người khác, chưa chắc ông đã chịu ký!

Lý do tưởng cũng rõ. Vì cho đến lúc ấy (1977) Hoài Thanh vẫn coi "Thi nhân Việt Nam" của mình là quyển sách có hại, hay ít ra là hại nhiều hơn lợi. Chỉ đến năm 1982, trước khi qua đời không lâu, trong một lần trò chuyện với con trai, Hoài Thanh mới tỏ ra bắt đầu thấy được giá trị quyển sách của mình; trong khi bạn đọc - mà bạn đọc nhỏ tuổi như tôi - đã thấy từ lâu lắm!

Một nhà nghiên cứu và phê bình nhạy cảm, tinh tế như Hoài Thanh, mà có cách hành xử quái lạ với quyển sách thực sự làm nên tên tuổi của ông như thế!

Cuốn “Thi nhân Việt Nam” do NXB Thiều Quang xuất bản.
Cuốn “Thi nhân Việt Nam” do NXB Thiều Quang xuất bản.

3. Không ít trường hợp, một câu thơ, một bài thơ; thậm chí chỉ một từ, một ngữ đặt trong một câu thơ, một bài thơ sẽ đưa người đọc đến những cách hiểu khác nhau, mà không thể, hay là rất khó khẳng định cách nào đúng hơn, chính xác hơn. Thơ nói chung đã vậy, thơ Đường lại càng như vậy.

Hãy thử xem chuyện liên quan đến một trong mấy bài thơ có tên "Tống biệt" của nhà thơ nổi tiếng Vương Duy (701-761).

Trong tạp chí Thơ số 4-2012, họa sĩ Phan Cẩm Thượng có nhắc đến bài thơ này, với câu đầu:

Hạ mã ẩm quân tửu

("Hạ" ở đây cũng có thể đọc là "há") và được dịch là: "Xuống ngựa, uống với anh chén rượu". Nói theo ngữ pháp, thì người xuống ngựa ở đây là đại từ nhân xưng, ngôi thứ nhất.

Sau khi bài báo của Phan Cẩm Thượng in ra, có một tác giả, ký là Nguyễn Sĩ Hoàng (Ninh Hiệp), trong bài viết in ở tạp chí Thơ số 8-2012, với một giọng khá trịch thượng và với cách nhìn rất phiến diện, đã "nhắc nhở" Phan Cẩm Thượng, và có ý trách cứ Tạp chí Thơ.

Ông viết: "Chúng tôi nghĩ rằng đã không viện dẫn một tác phẩm nào đó thì thôi, nhưng đã viện dẫn thì phải hiểu đúng, hiểu chính xác (thế nào là "đúng", thế nào là "chính xác" - HD)? Nhất là với bài "Tống biệt", một bài thơ hay có giá trị của Vương Duy lại được đăng tải trong một tạp chí chuyên ngành như tạp chí Thơ thì lại càng như thế lắm" (!)

Ông còn viết: "Căn cứ vào những chú thích cho bài "Tống biệt" này, ở tuyển tập "Đường thi tam bách thủ" (NXB Cổ Tịch, Thượng Hải, 2004) thì bài thơ này Vương Duy sáng tác vào dịp tiễn biệt nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên trở về quê nhà Nam Sơn".

Qua hai đoạn trên, có thể thấy tác giả này đã mắc hai sai lầm sơ đẳng.

a. Ông trách cứ Phan Cẩm Thượng đã hiểu sai câu thơ "Hạ mã ẩm quân tửu" mà không biết rằng đấy cũng là một cách hiểu của nhiều người, xem ra còn gần với ý tứ của tác giả hơn cách hiểu của ông (ông hiểu là: "Anh xuống ngựa, xin mời anh chén rượu". Nói theo ngữ pháp thì ở đây, người xuống ngựa là đại từ nhân xưng, ngôi thứ hai).

Tác giả bài báo hãy tìm đọc những cách hiểu như Phan Cẩm Thượng, nghĩa là khác hẳn cách hiểu của ông, ít nhất là ở những quyển sách này:

- "Thơ Đường" (tập I) của các vị túc nho, trong đó Nam Trân tuyển thơ, Hoa Bằng - Tảo Trang - Hoàng Tạo dịch nghĩa và chú thích, Nhà xuất bản Văn hóa, 1962.

- "Đường thi" của Phạm Liễu, Văn khoa (Sài Gòn) xuất bản, 1972.

- "Thơ Đường" của Trần Trọng San, tủ sách Đại học Tổng hợp thành phố Hà Chí Minh, 1990.

- "Về thi pháp thơ Đường", Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử biên soạn, dịch thuật, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997.

- "Khương Hữu Dụng toàn tập", phần thơ dịch, Nhà xuất bản Văn học, 2007...

Hẳn tác giả bài báo nói trên chỉ nghe đến tên tác giả mấy quyển sách vừa dẫn, đã phải... giật mình, mà thấy ngay vốn hiểu biết nông cạn, và cái tính bộp chộp của mình.

b. Tác giải bài báo chưa biết rằng ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản (và cả những nước khác) có rất nhiều sách nghiên cứu, bình luận, giới thiệu thơ Đường; trong đó các tác giả có thể có tư liệu riêng, có quan niệm riêng, có cách hiểu riêng, giống hoặc không giống các tác giả khác. Vì vậy, với một tư liệu nào quan trọng, đọc được ở một quyển sách nào, chỉ là để tham khảo, muốn kết luận phải đọc ở những sách khác, phải so sánh, phân tích… nếu như ông chỉ "căn cứ" vào chú thích của một quyển sách in ở một nhà xuất bản, rồi buộc người đọc theo "căn cứ" ấy thì hoàn toàn không phải là cách làm đáng tin cậy.

Hai sai lầm sơ đẳng, ấu trĩ nói trên, rất đáng phàn nàn. Đáng tiếc là chúng đã được tác giả bài báo thể hiện một cách thiếu khiêm tốn, không biết mình, biết người.

Bài báo của tác giả nói trên còn có những sai lầm khác (không thuộc phạm vi ta đang bàn).

Hồng Hiệu

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.