Chiếc quạt mo cau của mạ

Khộ! Dân miềng không phát âm đúng từ khổ. Chẳng sao cả, khộ cũng được, không dấu hỏi thì dấu nặng, có can chi mô hè. Từ khộ này, chắc chắn có liên quan tới món quà của mạ gửi từ Quảng Trị ra cho tôi rồi. Chiếc quạt mo cau...

Tôi cầm món quà Quảng Trị trên tay, cảm thấy như vừa nhẹ vừa nặng, vừa xa vừa gần, vừa hở vừa kín. Phất phất quạt, từng cơn gió nhỏ nhoi phả mát lên mặt, lùa mát vào lòng. Cơn gió mo cau như hồi niệm lùa về, cái thời ai cũng khộ, cơm không đủ ăn, áo chẳng đủ mặc, lấy đâu ra quạt máy, phòng điều hòa nhiệt độ như bây giờ.

Mình khộ một thì mạ khộ mười. Lớp người như mạ phải chịu hai cuộc chiến tranh bi tráng không kể xiết. Chín năm chống giặc Pháp. Hai mươi năm chống giặc Mỹ. Thuở chín năm, Quảng Trị có chiến khu Cùa, chiến khu Ba Lòng… "Đò em lên xuống Ba Lòng/ Đưa người cán bộ qua vùng chiến khu/ Ngày đông sóng cả nước to/ Mong trời thuận gió lên cho kịp về…". 

Chắc nhiều người biết đấy là thơ Lương An, bài này đã được đưa vào sách giáo khoa, thời tôi đi học còn đọc thuộc lòng. May mà thơ ca còn lặng thầm lưu giữ lại cho đời sau những đêm mưa mù mịt khó chèo thuở chín năm ấy, khi mạ còn là cô gái chưa chồng đã biết bới cơm cho cán bộ bí mật nằm rừng, cận kề dấu tích căn cứ Tân Sở được xây đắp nên từ thời vua Hàm Nghi trước trào Cần Vương. 

Lòng yêu nước không của riêng ai, không phân chia đẳng cấp, tầng lớp. Giá trị lòng yêu Tổ quốc của một ông vua ghét giặc xâm lăng và mạ, một thôn nữ sinh ra giữa thung lũng Cùa, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, vốn liếng văn hóa chỉ có dăm ba chữ bình dân học vụ là như nhau, hoàn toàn giống nhau. 

Tượng đài Thành cổ Quảng Trị hôm nay.
Tượng đài Thành cổ Quảng Trị hôm nay.

Thời chống Mỹ, Quảng Trị luôn được nhắc đến với nỗi đau chia cắt non sông mang tên cầu Hiền Lương sông Bến Hải. Tại sao thời đoạn Ngày Bắc đêm Nam ấy lại xuất hiện nhiều ca khúc da diết và thẳm sâu đến vậy. Một "Câu hò bên bờ Hiền Lương", một "Xa khơi"... lấy cảm hứng từ sông Bến Hải, biển Cửa Tùng đã vượt qua hết thảy những mục đích tuyên truyền chính trị của một thời để tình người thao thiết lắng đọng đến bao đời, không hề cỗi cằn, nhàm chán. 

Hèn chi, không ít văn nghệ sĩ khi nhắc tới Quảng Trị lòng rưng rưng bổi hổi bồi hồi như nói về nơi chôn rau cắt rốn của mình. Sau câu thơ quá đỗi lung linh "Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị" của nhà thơ Tế Hanh ta lại biết tới bài "Đêm Quảng Trị" đầy chất hùng ca trữ tình của nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh: "Sông Ba Lòng ơi ta muốn áp tai nghe/ Đôi bờ phì nhiêu phập phồng ngực thở/ Ta cúi hôn từng cụm lá chua me/ Chung thủy với cha ta mười năm gian khổ/ Ơi ngọn núi vắt con đường nho nhỏ/ Lối mòn xưa đưa cán bộ lên Cùa/ Gạo Triệu- Hải đò nằm ngang sóng vỗ/ Vượt Trấm rồi rộn rã mái chèo khua…". 

Nhà thơ Anh Ngọc đã mấy lần nói với tôi rằng: "Mình mong một ngày được trở về Quảng Trị". Đúng lắm, nhà thơ ạ, vùng đất thời bom đạn tơi bời đã cho anh phôi liệu viết nên thi phẩm "Cây xấu hổ"; "Mưa trên mái tôn"… đâu dễ lãng quên được. 

"Con nhìn ra bốn phía mưa sa/ Căn nhà nhỏ gió xô về tơi tả/ Những mái tôn trong mưa tuôn trắng xóa/ Mênh mông không một màu xanh…". Đấy là cơn mưa ở Cam Lộ những ngày mới giải phóng năm 1972. Tiếng mưa sụt sùi như tiếng nước mắt nghẹn ngào xa xót của mạ trên vùng quê vừa mới hôm qua sống trong kìm kẹp của địch. Còn có những cơn mưa mặn đắng hơn trong cái năm Nhâm Tý khốc liệt này trên một vùng đất khác không xa Cam Lộ mấy: Thành cổ Quảng Trị. 

Đã có nhiều trang viết về 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa ấy. Nhưng, có lẽ chưa ai đi hết chiều sâu thăm thẳm của "81 trang sách" Thành cổ 1972 đầm đìa máu và mồ hôi của lính, của dân. "Rêu cũng đỏ như đã từng là máu/ cỏ xanh hơn nơi vạn chiến binh nằm/ Ù ù gió hay hồn lính trận/ thổi trăm năm không qua được mùa hè…". 

Tôi đã cúi đầu trước hàng nghìn linh hồn liệt sĩ ở Thành cổ Quảng Trị với những câu thơ nhức buốt như thế. Cũng như đã từng nghe và thấy "Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn" ở thượng nguồn sông Bến Hải...

Chao ôi, cái khộ của Quảng Trị đã trở thành niềm thương nỗi nhớ của cả nước. Có lẽ thế. Ai nhắc đến vùng đất Quảng Trị với các địa danh Vịnh Mốc, Cồn Cỏ, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Thành cổ, Đông Hà, Cam Lộ, Khe Sanh, Cửa Việt, Đường Chín… mà chẳng chạnh lòng nghĩ tới số phận dân tộc mình, hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác, giặc này vừa cuốn gói thì thù khác đã thế chân, dấu giày viễn chinh chồng lấn lên nhau, chẳng khác gì bão nối bão, lũ tiếp lũ hành hạ dân mình.

"Chiến thắng mang khuôn mặt cùng cực khổ đau", đấy là câu thơ của một thi sĩ Nga viết sau Thế chiến II mà sao vận vào số phận dân tộc Việt Nam lại trùng khít đến vậy. Hay, cái giá của mọi cuộc chiến tranh ái quốc đều thế cả, cái giá của hòa bình, của độc lập tự do đều không bao giờ rẻ khi các thế lực phi nghĩa luôn mang tham vọng vô cùng lớn và năng lượng của cái ác cũng không hề bé nhỏ.

Trận địa Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Trận địa Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Cứ miên man như đang cùng mạ, cùng Quảng Trị đi về dĩ vãng chưa xa ngái mấy. Dĩ vãng niềm tự hào cao rộng như núi như biển và nỗi đau cũng mang tầm kích như thế. Ta đã nói nhiều tới điều này trong thời hậu chiến những hình như chưa đủ, chưa sâu. 

Chưa đi hết cái thấm thía chất náu trong trầm tích Quảng Trị. Kỳ tích và mất mát của một dải đất mỏng, neo bám vào Trường Sơn và trông ra biển cả bao la. Tôi nghĩ, Cửa Việt có một nội hàm bát ngát hơn là địa danh chỉ nơi đổ ra đại dương của một con sông không lớn của miền Trung.

Mạ của riêng tôi, mạ của nhiều người, mạ Quảng Trị chẳng hề nói dài, nói nhiều như ta đâu. Mạ nói: "Sông Hiền Lương bên bồi bên lở/ Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương/ Bao giờ giặc Mỹ hết phương/ Bắc Nam sum họp con đường vô ra". 

Mạ nói: "Bạn về không có chi đưa/ Môn khoai đang dại, mít dừa đang non". Mạ nói: "Chị em như chuối như tàu/ Tấm lành che tấm rách đừng nói nhau nặng lời". 

Tôi đã từng nghe mạ nói trong tiếng kẽo kẹt của cánh võng ru cháu ngủ trưa hè: "Chập choạng bóng trăng em xem chưa rõ/ Chập choạng bóng đèn em ngó chưa tường/ Dáng ai như dáng người thương/ Không vô đây phân giải một đôi đường cho em hay". Có lẽ, ngày xửa ngày xưa khi em còn bé tí mạ đã ru rằng: "Anh về đừng có ngó lui/ Để em ngó dọi ngùi ngùi thêm thương…".

Trong tôi đầy đặn một Quảng Trị quê hương thứ hai, quê ngoại của các con tôi; gần gũi một Quảng Trị thời trai trẻ được xác nhận bởi gió Lào, bão lũ; dấu yêu một Quảng Trị bạn bè rượu sắn lạc rang cho thơ xuôi sông Hiếu, sông Thạch Hãn rồi ra biển Việt mênh mang; thương lắm một Quảng Trị có em má lúm đồng tiền vừa làm cô giáo vừa mài bột sắn bán chợ nghèo; ân nghĩa một Quảng Trị nâng dìu tôi chập chững bước vào thơ ca để có những bài thơ định mệnh như "Bông huệ trắng", "Khát vọng Trường Sơn"…

Chiếc quạt mo cau, khộ! Một sự nhắc nhở nhẹ nhàng của mạ chăng? Ra chốn phồn hoa đô hội, lại có chút danh tiếng, biết đâu… Con người vốn dĩ hay quên, chắc mạ thầm lo thế. Mạ, đi đâu, ở đâu con vẫn mang hình bóng Quảng Trị trong lòng như mang câu ca dao xứ sở gió Lào nắng lửa: "Cây cao bóng cả chẳng ngồi/ Lại ngồi trửa nắng trách trời không dim". 

Tôi ngắm nghía chiếc mo cau của mạ, lòng bâng khuâng thấy Quảng Trị rất gần; tháng năm xưa hiện về mồn một với những thương mến chân thành mà vùng đất ấy đã dành cho tôi. Không hoàn toàn mỹ mãn, trọn vẹn nhưng những tháng năm tôi sống ở Quảng Trị là vô cùng ý nghĩa. Cả những ai đó đã ứng xử không phải với mình, tôi cũng không còn băn khoăn nữa. 

Người Quảng Trị sống chân mộc, có trước có sau, không hề cực đoan và cũng không đãi bôi là cảm nhận bao quát trong tôi. Tôi trân trọng và yêu quý điều đó.

Giữa tiết thu rất đẹp của Hà Nội, thương mến Quảng Trị đã cho tôi bài thơ bé nhỏ này: "Mo cau rụng xuống sân nhà/ Mạ ta làm quạt gửi ra Hà thành/ Cầm tay, thơm ngát hương lành/ Nghe trời Quảng Trị thẳm xanh đáy lòng". 

Tôi dùng bút dạ ghi bốn câu thơ lên chiếc quạt mo cau của mạ, sau đó chụp ảnh rồi đưa lên trang facebook của mình. Trời ạ, hàng trăm người vào like với nhiều lời bình luận rất cảm động. Tình cảm riêng tư của tôi đã được cộng hưởng mạnh mẽ vào tình cảm của bạn bè gần xa. Sự tương tác trong thế giới ảo ấy không hề lạ lẫm với đời sống nội tâm thực của con người. 

Tình yêu của tôi đối với Quảng Trị đã nhận được sự chia sẻ của không ít bè bạn. Chiếc quạt mo cau mặc nhiên trở thành biểu tượng tình cảm mạ dành cho tôi. Đơn sơ mà lắng đọng bao nhiêu ý nghĩa tốt đẹp, trong sáng của cuộc sống hướng thiện.

Nguyễn Hữu Quý

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.