Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Bọn nhóc trong xóm không gọi anh là Ngô Bằng Châu, mà gọi tắt là A Châu. Gọi riết rồi thành quen.

Mười bốn tuổi thất học. Bỏ nhà đi bụi. Theo chuyến xe khách vào Nam. Trước khi đi, A Châu không một lời bàn bạc với gia đình, không một mẩu tin để lại. A Châu chỉ nhắn vội với O Dẫn khi đang phát cỏ ở vườn chuối.

“Nhờ O nói với Bọ cháu là thằng Châu đi vô Nam xin việc làm vài năm rồi về. Chớ có tìm”. Thế là đi. Đằng đẵng gần ba mươi năm. Bọn nhóc xóm bây giờ đứa nào đứa nấy cũng đã yên bề gia thất, làm ăn khấm khá.

58793944-a84c-4450-bd07-1a8e729fa5a9.jpg -0
Minh họa: Hà Huy Chương

A Châu trở về, da sạm, gương mặt hốc hác với hai gò má nổi cao. Tóc buộc gọn một túm sau gáy. Lối vào nhà gần ba mươi năm chẳng mấy thay đổi. Vẫn vườn chuối bên cạnh. Đi dọc con đường mòn giữa hai rặng tre dẫn xuống con dốc nhỏ là Rào Bùng. Rào Bùng chảy từ hướng núi Bồng Lai. Mỗi mùa mưa lũ, nước từ trong núi cuồn cuộn đổ về, từ một ngọn Rào xanh trong hiền hòa trở nên đục ngầu, hung hãn, làm xói lở hết doi đất sỏi pha cát hai bên bờ.

Hằng năm người ta phải gia cố bằng những cọc tre, xếp thêm bờ rào đá để không cho nước xâm lấn vào đất canh tác. Ấy thế mà những năm lụt to, từng mảng đất nứt hoác ra, như chiếc bánh bị sấn từng miếng rất ngọt cuộn trôi ra biển. Doi đất hẹp dần. Ngôi nhà trở nên sát mép ngọn Rào. Cheo leo. Nguy hiểm. Nhìn vào nom như một bức tranh.

Khi mùa hè, rặng tre đung đua kẽo kẹt, đổ bóng râm xuống mái nâu giản dị. Mùa thu, khói mơ màng bay lên, lá tre vàng ươm xoáy tít trong gió trước khi đáp xuống mặt nước. Và mùa đông, sương từ sông là đà trên những vạt ớt đỏ.

Cây đào phai bên bờ rào đá năm nào cũng nở. Nở bất chấp. Nở không vì ai. Mọi thứ có thể trôi đi. Nhưng ký ức vẫn còn neo đậu. Có thể một ngày nào đó ký ức cũng sẽ mờ dần, khi ông ngày càng già đi và lú lẫn. Nhưng bây giờ ông vẫn nhớ rõ mồn một cây đào này là do A Châu trồng năm nó mười ba tuổi. Nó theo ông ra xây bờ rào đá và tiện thể trồng cây đào rừng này ở đây. Nó bảo: “Mạ rất thích đào phai, con xin được gốc lớn này từ nhà chú Thứ, khéo chăm thì qua năm có hoa thôi”.

Ông Thoản sống mũi cay xè khi nghe A Châu nhắc đến người vợ đầu của ông. Bà ấy mất vì bệnh phổi. Khi đó A Châu mới bảy tuổi. Năm tháng gà trống nuôi con, ông Thoản quyết định đi thêm bước nữa cho con có mẹ và ngôi nhà cũng bớt hưu quạnh. Đó là bà Thiển vợ ông bây giờ. Chồng bà cũng mất đận đi rừng lấy gỗ. Bà có một đứa con trai riêng, nhỏ hơn A Châu hai tuổi. Cám cảnh, rổ rá cạp lại, bà con làng xóm động viên mãi, hai bên mới mở lòng về ở với nhau, có thêm được hai mặt con, một trai, một gái.

Giá mà cuộc sống cứ thế trôi đi trong êm đềm lặng lẽ của sự thấu hiểu cảm thông và chia sẻ thì tốt biết nhường nào. Nhưng sự đời mà. Chuyện con anh con em, con chúng ta đã phá vỡ sự êm đềm ấy. Đó là lúc thằng Chình ôm cái đầu đầy máu khóc lóc chạy về mách mạ: “A Châu lấy đá ném con”. Bà Thiển liếc xéo A Châu với vẻ mặt hậm hực, không nói không rằng, lôi thằng Chình đi ra trạm xá, lát sau trở về một mảng tóc trên đầu bị húi sạch, miếng băng gạc trắng phếu nổi cộm lên. Trong lúc chờ bà Thiển dọn cơm, ông Thoản kéo đầu thằng Chình lại: “Nghịch mô mà để toác đầu ra rứa”.

 Giọng bà Thiển từ dưới bếp vọng lên: “Hỏi thằng con giai quý hay lam hay làm của ông ấy, nó kể cho mà nghe”.

- Răng rứa Châu?

- Thằng Chình chặt phá cành đào làm ná, con nói không được chặt, nó vẫn lỳ ra đấy. Bọ xem cây đào có còn ra thể thống gì nữa không, cành lớn cành bé đều gãy sạch.

- Ối dào, khoai sắn còn chưa có đổ vô mồm, đào với chả mai. Chăm lo vạt bắp kia cho tốt thì hơn.

- A Châu lần sau không được đánh em nữa nghe không, con làm anh thì nhường nhịn em út chút xíu có chi mô...

- Đấy, ông cứ dạy bảo con kiểu thế thì chỉ có lớn mà chẳng có khôn. Phải người khác á, không một trận nhừ tử thì cũng giam cho rục xương, đừng hòng cơm nước chi. Ừm... mà cũng phải thôi, có ruột rà máu mủ chi mô mà thương mà xót... Tôi mà đánh mắng nó thì người đời lại độc mồm độc miệng bảo mẹ ghẻ con chồng, nói nó vài câu thì y như rằng cãi lại nhem nhẻm... Tui là tui thua rồi đấy...

- Thôi mà, trẻ con nghịch dại, từ từ bày vẽ cho nó...

- Ôi dồi ôi, tui tay xách nách mang, sáng mài đũng quần ở chợ lo buôn lo bán, chiều lại đồng áng đến tối mịt... tưởng ông hiểu tui hóa ra cũng chỉ như rứa thôi...

Bà Thiển khóc rống lên như chết cha chết mạ, được phen cho hàng xóm lắm chuyện, thấp thỏm bờ rào...

Một tháng cứ vài vụ to nhỏ xảy ra, không với thằng Chình thì cũng thằng Mẳn, con Mẹt... và lần nào A Châu cũng là người mang tội. Có bận A Châu nhịn ăn ra đồng, nó ngước mắt về phía thung lũng, nơi những ruộng ngô thấp thoáng vây quanh. Mạ nó ở đó. Mùa lau trắng xóa bời bời. Tiếng vạc kêu đồng khắc khoải. Hoàng hôn ở đó càng tô buồn lên mắt nó. Một nỗi buồn thăm thẳm trùm xuống tuổi mười bốn.

Những ngày, nó nằm trên chiếc đò ngang, thả trôi theo ngọn Rào Bùng. Màu xanh lam của nước, của núi, của nền trời xoa dịu những vết roi hằn trên mông và lưng nó. Bọ đã đánh nó vì tội để trâu phá nát đám hoa màu của thôn, bị phạt hai yến lúa. Rõ ràng nó đã dặn thằng Chình trông nom trâu cẩn thận để nó đi kiếm ít củi mang về đun nấu.

Nước mắt A Châu khô cong bởi gió, để lại những vệt trắng lờ mờ. Nó liếm thấy vị mặn. Nó đói và thèm một bát khoai xéo nóng hổi. Hồi đó mạ nó nấu món này ngon lắm.

“Cho cu Thí (tên hồi nhỏ của A Châu) của mạ nhiều lạc nì. Ăn cho no rồi học hành cho ngoan hỉ”. Trường học tiện đường, mạ A Châu bao giờ cũng nựng cằm con trai trước khi bóng dáng khuất vào lớp rồi mới đi ra ruộng.

Cơn ho dăng dẳng kéo dài, vòm ngực thít chặt lại. Bàn tay nhỏ nhắn của A Châu vuốt vuốt liên tục trên cổ mạ. Nước mắt bà chảy dài, cầm lấy tay A Châu dặn: “Nhớ ráng học hành, sống làm người tử tế nghe con”. Mùa đông năm đó, A Châu mồ côi mạ.

Những tiếng bấc tiếng chì ậm ực mãi rồi cũng bật ra. Trút hết mọi kìm nén bấy lâu, bà Thiển cầm chiếc đòn gánh lia một cú dài, chiếc đòn gánh nảy bật lên trúng vào cẳng chân A Châu đau điếng. Trời mùa lạnh, manh áo che thân chưa ấm, cơm độn thêm khoai sắn cũng ăn không đủ no. Với sức ăn tuổi đậy thì, lưng bát cơm mỗi bữa có thấm bõ bèn gì đâu. Ngày ở đồng, A Châu cố lấp đầy cái bụng đói của mình bằng mầm đậu, khoai lang sống đào lên, dăm con cua con cá bắt được nướng trên lửa khét mù. Có đau bụng thì chỉ cần nhai vài đọt lá chè xanh rồi cũng xong. Tự ốm tự lành. Ơn trời!

Có bận, nhớ mạ quá, A Châu ra mộ ngồi thi thỉ một mình. Nó đã lên kế hoạch cho một chuyến đi xa. Chỉ mạ nó biết. Mạ sẽ phù hộ cho nó thôi.

                           ***

Thằng A Châu về, nó về thật rồi, không phải đồn đại mô. Làng xáo xác lên, kéo nhau qua nhà ông bà Thoản coi rõ thực hư.

- Ầy hầy... mi đây thiệt à A Châu... Khỏe mạnh rắn rỏi ri mà làng cứ đồn bậy đồn bạ...

- Mấy lâu biệt tăm biệt tích, rứa đã vợ con chi chưa?

- Hồi đó choa hết nước mắt vì mi, khi nghe tin lật tàu... Đêm đó cả xóm tập trung ở nhà mi đông lắm...

“Bọ cháu mô rồi mấy o mấy bác?” - A Châu liếc nhìn khắp một lượt, là người cứng rắn lắm nhưng cũng không giấu được đôi mắt đỏ hoe vì xúc động...

Gần ba mươi năm rồi còn gì. Những người làng, nét mặt thân quen còn đó nhưng lưng đã còng xuống và tóc bạc hết trên đầu. Người còn người mất.

-  A Châu, bọ mi tuy tai lãng nặng nhưng được cái sức khỏe còn dẻo dai lắm, bảy lăm có khi hơn rồi mà có ai được như bọ mi mô. Ông đang kê đá ngoài bờ rào đó tề.

A Châu nhìn theo hướng tay o Dẫn. Một dáng người lom khom đang vần xếp mấy tảng đá thành từng hàng dài. Cây đào phai cạnh đó phủ trùm hết một khoảnh đất canh tác, một phần nhoài nhánh ra sông.

“ Bọ ơi”!

Ông Thoản tai như rỗng ra, nghe rõ tiếng gọi sau lưng mình. Ông quay người lại, con mắt vừa mới mổ đục thủy tinh thể, cố gắng căng ra hết cỡ để nhìn cho rõ con người đang đứng trước mặt mình. Chỉ một lát thôi, ông như muốn khuỵu xuống, tay chân run bắn, chiếc cần cổ chạy lên chạy xuống những đường gân không tự chủ. “A Châu, thằng A Châu... Thằng A Châu về rồi, hắn chưa chết. Đó! Tui đã nói rồi, con tui không đời nào chết được” - ông Thoản khóc rống lên, ôm chặt A Châu. Sự vui mừng đột ngột khiến ông loạn xạ y như chú cò gầy nhảy tâng tâng trên luống đất cày.

Giữa sân, chiếc làn nhựa đỏ lăn ra những ống đương (một loại họ nứa dùng để chẻ lạt làm bánh, hoặc để đan lát), bà Thiển nói to: “Mau gọi anh chị em của nó tập trung về đây. Thằng A Châu về rồi...”.

Chiếc bàn thờ nhỏ nằm sâu trong cùng gian trái nhà. Không di ảnh. Chỉ một bình hoa và bộ ấm trà mộc.

“Bọ không tin mi chết, nên bọ nhất quyết không thờ, bọ chỉ khấn vọng gia tiên phù hộ độ trì cho con, dẫn lối con về nhà... Tết nào bọ cũng pha trà mời vọng và không quên cắm lên đây một cành đào. Bọ phải sống dai, sống tốt để chờ mi về... Mi thấy chưa chừ mi còn gầy hơn cả bọ, chỉ được cái cao hơn thôi...”.

- Con ra thăm Mạ tí - A Châu xách chiếc túi vải đựng những thứ quà từ miền Nam mang ra... Ngày xưa mạ nói rất thèm ăn hoa quả “trong tê”.

Núi, cánh đồng và dòng sông vẫn thế. Xanh biếc. Khác là hai bên đường dẫn ra sông Son, nhà cửa mọc lên nhiều, ruộng đồng thu hẹp hơn. Dải đất ven sông người ta còn trồng hoa, dựng nhà lá, nhà gỗ để làm du lịch. Trâu bò, ngan ngỗng, vịt, gà... đều trở thành thú cưng của du khách. A Châu cảm nhận rõ luồng gió mới đang thổi qua vùng đất yên bình. “Chỉ cần giữ nguyên vẻ đẹp tự nhiên vốn có này cũng đã là một nguồn đầu tư lớn - Châu thầm nghĩ khi tận hưởng bầu không khí khoáng đạt giữa vùng xanh biếc đến tận cùng này.

Các cơ sở chế biến hải sản sạch để phục vụ du lịch, làm quà biếu tặng, không ai qua được A Châu. Một trong những thương hiệu uy tín ở trong Nam. Với tính cách trầm ổn, không ồn ào, A Châu không thích phô trương, khoe mẽ... anh đã tạo dựng được công ăn việc làm cho mấy chục nhân công ở xưởng. Hàng năm thu nhập khấm khá, vợ con đề huề. Lần này đáng ra vợ con anh cũng theo về, nhưng Tết nhất cận kề, hàng hóa lu bu, mỗi ngày cả hàng ngàn đơn đặt...

Anh nói vợ, ra Tết sẽ đón bọ vô Nam chơi và hỏi xem mấy đứa em có theo anh vô Nam làm cùng không. Anh em bảo ban nhau làm ăn, chứ ruộng đồng mãi thì có được mấy xu, quanh năm khí hậu khắc nghiệt, mùa màng thất thường...

Anh tính về từ lâu, nhưng ngặt mấy ao tôm cần anh phải bắt tay chỉ việc. Ổn đâu vào đấy rồi anh mới đi được. Nói thẳng ra, ban đầu mang tâm lý tự ti e ngại của một đứa con nhà nghèo, chưa công thành danh toại thì chưa muốn trở về. Đành rằng còn cha còn mẹ ai mà chẳng thương, nhưng muốn lo toan được thì phải có tiền đồ.

Sau mười mấy năm bôn ba trên biển, A Châu cũng tích cóp được ít tiền, mở xưởng khô cá, nước mắm riêng, dần dần có thêm các đại lý. Và Loan là một trong số các cô gái thầm để ý A Châu, bởi tính cách hiền lành, chịu thương chịu khó. Ông già cô cũng thích cậu ấy. Thế là ngầm nhờ bạn ông mối lái, mấy tháng sau thì đám cưới.

Nhà tía vợ có mấy công ruộng, ông cho hai vợ chồng con gái cải tạo làm hồ nuôi tôm. Cuộc sống khấm khá lên rất nhanh. Nhoằng cái thêm một, rồi đến hai thập niên trôi qua. Từ cậu bé đen nhẻm gầy guộc ăn không đủ no, nay đã là ông chủ, tóc trên đầu bạc nhiều hơn xanh.

“Thằng A Châu về rồi liệu nó có đòi chia chác đất đai không?” - tiếng thì thầm nhỏ to trong nhà cũng đủ để A Châu nghe.

Bà Thiển già đi trông thấy, cũng đúng thôi, người lúc nào cũng đầy lo toan, chân đi chẳng mấy chạm đất. Người thế đâm ra khổ. A Châu thấy bà đáng thương nhiều hơn để giận.

Bao nhiêu năm giờ con mới về, thấy con  mạnh khỏe rứa là dì mừng. Thôi con ngồi chơi với mọi người đi, dì đi nấu cơm. Thằng Chình ra vườn bắt gà vô đây hỉ.

A Châu nhìn ra vạt đất rộng trước mặt nhà, rồi lại nhìn quanh khắp khu vườn một lượt. Trước kia quanh đây toàn những hố bom. Là Bọ, dì Thiển và mấy đứa con ôm vác từng trạc đất vùi lấp lại. Như kiến tha lâu rồi cũng đầy tổ, qua bao nhiêu năm, nương vườn giờ bằng phẳng, rộng lớn hẳn. Mấy đứa em được bọ mạ chia đất cho ở riêng cạnh đấy. Thế cũng yên tâm, người già cần có con cái quây quần, lỡ hôm đau mai ốm. Tự dưng A Châu thấy rưng rưng. Thương dì và các em một đời lam lũ. Suy cho cùng, dì vẫn là một người tốt, mồm miệng bù loa dăm ba điều thế thôi chứ hành động của dì lại khác.

“Cơm nước xong rồi, dọn ăn thôi kẻo đói hỉ. Mâm cơm nghi ngút khói được bê lên và dì không quên đặt một mâm nhỏ lên bàn thờ của mạ A Châu, cùng với đĩa hoa quả mà anh mang về. Dì Thiển nhấc chiếc ba lô cũ kỹ của A Châu gác lên nóc tủ. Chợt thấy ngậm ngùi và thoáng hổ thẹn với lương tâm vì những suy nghĩ ban đầu.

“Nay về rồi thì ở lại quê mà sinh sống thôi con ạ. Không mô bằng nơi chôn nhau cắt rốn. Phần đất hương hỏa từ đường kia là chờ con về chăm nom đó”.

- Dạ không đâu dì”. Từ lúc về tới giờ, mọi người mới để ý thấy anh cười. “Ở đâu mà cho mình cuộc sống tốt thì cứ sống thôi dì ạ. Ở lâu rồi cũng hóa quê hương”.

- Ừ, biết vậy, nhưng dì muốn con về sống gần bọ mạ và các em cho ấm cúng gia đình.

- Bọ ạ, dì ạ và các em nữa. Lần này con về...

A Châu nói những ý định của mình và lấy ra trong ba lô những xấp tiền mệnh giá cao nhất. Đây là chút tấm lòng của con, bọ và dì cầm đi mà sửa sang nhà cửa vườn tược, rồi chăm lo sức khỏe cho mình nữa. Còn phần các em, vô đó anh em con sẽ bảo ban nhau làm ăn. Tết nhất lại kéo nhau về. Bọ và dì cứ yên tâm hỉ.

 Không ngờ cuối đời gia đình ông lại có niềm hạnh phúc lớn lao như vậy. Ông đi đến bàn thờ của mạ A Châu, rưng rưng thắp nén nhang trầm thì thầm khấn.

Ngoài bờ rào đá, những nụ hoa bắt đầu bung nhẹ lớp vỏ lụa màu nâu bóng. Từ phía núi Bồng Lai, ngọn Rào Bùng vẫn âm thầm chảy giữa hai bên xóm làng xanh ngút ngô khoai. Giữa cánh đồng ai đó vừa đốt rác, những lọn khói lảng bảng bay lên. Cả một vùng ký ức tuổi thơ quay về khiến A Châu cay xè đôi mắt. Rưng rưng!

Truyện ngắn của Trác Diễm

Các tin khác

Tình yêu dị dạng

Tình yêu dị dạng

Khi đến lượt mình, Lâm Khê lén dúi vào tay anh mẩu giấy ghi số điện thoại. Thẩm Ngôn khựng lại, ngẩn người nhìn cô rồi lẳng lặng nhận lấy. Ngay tối hôm đó, cô nhận được cuộc gọi từ anh.

Biển rợp sóng

Biển rợp sóng

Tiếng gió biển thổi đem tiếng vi vu của vạt phi lao tới như một bản nhạc vừa buồn vừa rực rỡ, ngút ngàn cô đơn. Biển cũng chỉ có vậy thôi: đơn giản và nhạt nhòa. Nó giống như chàng trai lúng túng trước vạt tóc bay qua bờ vai phủ lên khuôn mặt đẫm nước mắt của cô gái mà chỉ biết thở dài thừa thãi.

“Trợ lý thông minh”

“Trợ lý thông minh”

Lý Minh hào hứng nghiên cứu cả buổi chiều, cài đặt hết các lệnh cần thiết, thậm chí còn lén cài thêm một lệnh “lời chào tùy chỉnh”. Anh ta tự tin nói: “Có nó, hiệu suất làm việc của văn phòng chắc chắn sẽ tăng gấp đôi”.

Còn lại cái gọng không

Còn lại cái gọng không

Vâng lời bác sĩ, tôi sắm ngay một chiếc kính. Nhưng khổ nỗi, cứ hễ đeo vào là đầu óc lại quay cuồng, buồn nôn không chịu nổi. Thậm chí có lần, nói ra thì hơi ngại, tôi đã nôn thốc nôn tháo đến mức mật xanh mật vàng đều ra hết.

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Đời này, kiếp này A Sính sẽ gắn bó với núi rừng. Nó thương những em nhỏ mỗi lần đi học phải dậy từ sớm, rồi đu qua sợi dây cáp sang bên kia suối, đi hết một quả đồi nữa mới đến điểm trường. Biết được nỗi nhọc nhằn đi tìm con chữ của dân bản, cấp trên đã cho xây dựng một lớp học ở lưng chừng đồi.

Người đàn ông bên bến sông trăng

Người đàn ông bên bến sông trăng

Ngoài sân, mấy tàu cau khô cọ vào nhau xào xạc. Thời gian của đêm trôi qua chậm và buồn quá. Lâu nay, khi có rượu vào là Lâm lại nhớ về quãng đời cũ của mình.

Khiêu vũ với cái chết

Khiêu vũ với cái chết

Người đàn ông kia có đôi mắt xám với hàng mi dày, mũi rộng và môi rất mỏng. Khi người phục vụ mang đồ uống đến, họ với lấy ly mà không rời mắt khỏi sàn nhảy.

Lời của Thượng đế

Lời của Thượng đế

“Trong thiên hạ không có cái gì là không lấy được, không có chỗ nào là không đột nhập được”.

Những ông vua bị lừa

Những ông vua bị lừa

Tôn Tẫn không nhịn được cười nói: “Không phải hạ thần đã làm cho Bệ hạ rời khỏi ngai vàng rồi sao?”

Ánh đèn khuya chạm ngõ

Ánh đèn khuya chạm ngõ

Từ trong sâu thẳm chàng thanh niên kia, anh biết nó quý anh. Cảm giác nó nghe lời anh hẳn đang ao ước với con gái mình mà chưa dám. Có lần nó hỏi chuyện em Diệp công việc ra sao, anh nhẹ nhàng nói nhanh rồi lơ qua chuyện khác.

Đêm sâu trên bến Gáo

Đêm sâu trên bến Gáo

Vào mùa nước nổi, những cánh đồng thoảng hương lúa non bỗng chốc hóa thành biển nước mênh mông, trải dài tít tắp đến tận chân trời, nơi thỉnh thoảng vài cánh cò trắng lảng bảng bay về phía rặng tràm thẫm tối cuối bến dốc

Quan Tể tướng và cô con gái

Quan Tể tướng và cô con gái

Bất chợt tiểu thư Ngọc Hương thấy trong lòng có chút lo ngại. Rõ ràng chiều tối hôm qua, trước khi trở về phòng mình, chính tay nàng đã mang cây nến mới vừa châm lửa đến đặt trên bàn sách. Cây nến cao bằng chiếc đũa ăn giờ đã cháy gần hết. 

Hành khách tệ hại

Hành khách tệ hại

Động cơ xe hộc lên một tiếng khô khốc rồi lầm lũi lao về phía trước. Martha vẫn chưa chịu buông tha, bà ta bắt đầu đi dọc lối đi, gót giày nện xuống sàn xe nghe chát chúa:

Thử nấm độc

Thử nấm độc

Nhìn những vệt hoa văn sặc sỡ trên mũ nấm, tim tôi đánh thót một cái. Tôi nhận ra ngay đó là loại nấm kịch độc, chỉ cần nếm một chút cũng đủ đi gặp tổ tiên.

Lão Lai Phúc trúng độc đắc

Lão Lai Phúc trúng độc đắc

Đúng lúc đó, vợ lão thản nhiên cầm tấm vé lên xem, vừa lau bàn vừa liếc nhìn tivi. Bàn tay bà ấy cử động chậm dần, cuối cùng thì há hốc miệng và đứng chết lặng, ngây người khiến lão Lai Phúc giật mình: "Kìa, bà làm sao vậy?".

Minh họa: Lê Tâm

Tư duy con cua

Chị Tú, vợ của lão Trần, vừa trở thành tâm điểm chú ý của cả cơ quan khi nhận danh hiệu Gương mặt công chức ưu tú vào dịp cuối năm, kèm theo đó là quyết định thăng hai bậc lương.

Bữa tiệc “xác thịt”

Bữa tiệc “xác thịt”

Chỉ trong sáu ngày, từ 18 tháng Sáu tới 23 tháng Sáu, đã có ba nhân viên dưới trướng anh Keo, thợ săn ảnh tôi quen, liên tiếp qua đời do xuất huyết não cấp tính. Nếu nhân viên công ty này toàn các bác bảy, tám mươi tuổi thì còn hiểu được. Nhưng họ đều là thanh niên mới ngoài hai, ba mươi, thực sự rất đáng ngờ. Tôi bắt đầu cuộc điều tra. Tôi hỏi dạo gần đây anh Keo có làm mếch lòng ai không.

Vua hám lợi

Vua hám lợi

Ở một thị trấn nhỏ miền Bắc có một người mà ai cũng biết, gọi là “Vua hám lợi”- đó là lão Vương. Lão Vương năm nay hơn năm mươi tuổi, dáng người không cao nhưng đôi mắt lão cực kỳ linh lợi, lúc nào cũng đảo quanh như thể đang tìm cơ hội kiếm lợi tiếp theo.

Trăng đỏ

Trăng đỏ

                                                                                                             Truyện ngắn dự thi của Vi Hợi

Trăng trên đỉnh Phá Khao đêm nay lạ lắm. Nó không vàng vọt như những đêm hanh hao đầu mùa, cũng không bạc trắng như sương muối. Nó đỏ quạch, đặc quánh như vũng máu loãng đổ dền lên những phiến đá tai mèo sắc lẹm. Gió núi thổi thốc qua những hốc đá, phát ra âm thanh u u, rền rĩ như tiếng của hàng ngàn con ma khát nước đang bò lê lết dưới thung sâu.

Ông Ậu mo cuối cùng

Ông Ậu mo cuối cùng

Tôi đặt lễ, thắp nhang lên bàn thờ người Ậu mo cuối cùng của bản. Thay cho lời khấn vái như người dưới xuôi, tôi lẩm nhẩm đọc một đoạn “mo dẫn đường”. Vì tôi biết, ngày ông Ậu Cường về Mường Ma, không có ông Ậu nào đọc bài mo dẫn đường để dẫn vong hồn ông lên trời. Thông đứng lặng cạnh bên nghe tôi đọc làu làu. Xong rồi, tôi với Thông cùng ngồi xuống chiếc chiếu từ ngày xưa, ngày ông Ậu Cường vẫn thường ngồi, trải phía trước bàn thờ.