Cao nguyên nỗi hẹn không lời

Mỗi lần đi qua đèo Bảo Lộc (Lâm Đồng) lời ca ấy lại vang lên trong tôi: “Trời buông gió và mây về ngang bên lưng đèo/ Mùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều” ("Dấu chân địa đàng" - Trịnh Công Sơn). Con đèo ngoằn ngoèo luôn ám ảnh với những suối lũ sạt lở và bóng người áo trắng chập chờn bên bờ vực. Một chuyến xe đêm kỳ thú. Bao giờ cũng vậy, xe vừa tới bến là tôi vội nhảy xuống thở phào rồi đi dọc đường Trần Phú (Quốc lộ l 20).

Ngã ba bên hồ xanh phố nhớ

Thành phố Bảo Lộc mới được thành lập từ năm 2010. Những thực ra đây đã từng là tỉnh lỵ của Lâm Đồng từ năm 1958. Nhìn thành phố Bảo Lộc từ trên cao mới thấy được vẻ đẹp kiêu sa của nó với những triền núi dài, sông lớn và thung lũng bao la xanh tươi. Hơn nữa, thành phố trẻ Bảo Lộc còn gắn với dòng sông La Ngà và hệ thống suối đổ xuống từ núi Đại Bình tạo nét kỳ vĩ nên thơ.

Vì cấu trúc thổ nhưỡng ở độ cao 900 mét, có nhiều thắng cảnh độc đáo ở thành phố Bảo Lộc. Đó là con đèo “ma” ghê rợn Bảo Lộc. Hay thác Đam Bri (cao 60m) dữ dội; hoặc núi Đại Bình (cao 1.200m) duyên dáng; và còn hồ Nam Phương (rộng 100 ha), suối Đá Bàn, Tân Thanh… Đặc biệt, trục Quốc lộ 20 đi qua trung tâm thành phố tạo nên những khu thương mại sầm uất kéo dài hàng cây số. Đây là con đường bám sát chân dãy cao nguyên Di Linh đi lên Đà Lạt (dài 120km).

Cao nguyên nỗi hẹn không lời -0
Một góc thành phố Bảo Lộc.

Với tôi, thành phố Bảo Lộc tựa như một điểm hẹn mỗi lần lên cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang). Một mối duyên hồn nhiên gắn bó tôi với thành phố cao nguyên này xuất phát từ bài ca “Tuổi đá buồn” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ông viết bài hát từ con đường đầy bụi đỏ BLao ngày xưa đó.

Tôi cố đi tìm con đường phố thấm đẫm nỗi cô đơn của nhạc sĩ. Một nỗi yêu con đường có tên “Cầu Đen”, nơi ông ở trong ba năm (1964-1967). Nỗi nhớ những con đường bụi đỏ đầy xa lạ ấy đã phủ lên tâm hồn tôi: “Chiều chủ nhật buồn nằm trong căn gác đìu hiu/ Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều/ Trời mưa trời mưa không dứt/ Ô hay mình vẫn cô liêu” (Lời buồn thánh).

Nơi nhạc sĩ ở nhìn thẳng ra một nhà thờ trên đầu phố. Và còn đó, một bóng hồng luôn ngang qua đã làm rạo rực trái tim nghệ sĩ trong ông. Nỗi yêu thầm kín kia làm thổn thức lòng người: “Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang, từng ngón tay buồn/ Em mang, em mang đi về giáo đường/ Ngày chủ nhật buồn, còn ai còn ai/ Đóa hoa hồng cài lên tóc mây…” (Tuổi đá buồn).

Đó là những ngày tháng dài, nhạc sĩ tự giam mình trong những mùa hè đầy gió bụi và đỏ lửa. Con đường Cầu Đen (nay là Lý Tự  Trọng) đã chứng kiến sự ra đời hàng loạt bài ca phản chiến của nhạc sĩ trong những ngày trốn lính. Tôi đã đi qua con đường ven hồ Bảo Lộc (còn có tên gốc hồ Đồng Nai) không biết bao lần. Những con gió thổi tung bụi đỏ ngày nào vẫn trở về trên mỗi bước chân trễ nải.

Lần mò theo dấu bước của nhạc sĩ trong quá khứ mờ mịt chân mây, tôi bồi hồi cùng cát bụi quay về. Tôi sực nhớ những câu thơ của một thi sĩ đã viết: “Sương mù giăng muôn lối/ Trong nỗi đau tình cờ/ Đời-Biết đâu nguồn cội/ Tuổi đá buồn - thẫn thờ/ Thương - Cỏ xót xa đưa/ Cát bụi - bay xao xác/ Cung đàn như cánh vạc/ Em đến như tình cờ/ Chiều một mình qua phố/ Ta phải thấy mặt trời/ Ngắt-Hoa vàng mấy độ/ Và -Xin trả nợ đời” (Quang Minh). Đây là cảm xúc của thi nhân qua sự sắp xếp những tác phẩm của Trịnh Công Sơn thành thi phẩm đáng yêu.

Một thi nhân dị thường

Thành phố Bảo Lộc là đất của người dân tộc Mạ xưa nhưng từ khi người Pháp xâm lược đã phá vỡ cấu trúc sinh thái tại xứ Blao này. Nhiều bộ tộc phiêu dạt về những khu vực chung quanh thành phố. Nền văn hóa của quốc vương Mạ một thời vẫn đóng dấu sắc màu Blao trong mọi góc phố đường làng. Hàng ngàn người Mạ ở tập trung vùng Đam Bri với con thác thiên thần của họ. Dường như cả mấy xã đều trồng dâu nuôi tằm và dệt tơ lụa. Người dân Mạ vẫn luôn chiêm bao: “Mơ khóc thì sống lâu/ Chiêm bao cười, mau trở về/ Mơ thấy người yêu, thần gặp ta” (ca dao Mạ - Ninh Thế Hùng sưu tầm).

Nhưng giờ đây, trong những đêm hát giao lưu dưới ánh trăng, họ còn say sưa trong lời ca mới:“Một đêm sao ở trên rừng/ Đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian/ Hồn tôi cây cối liên hoan/ Rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ” (Nguyễn Đức Sơn). Lúc này, tôi mới nhớ tới thi sĩ Nguyễn Đức Sơn (1937-2020) qua lời ca dân gian ấy. Ông là một hiện tượng thi ca của xứ Bảo Lộc này. Hiện gia đình ông ở tại tổ 9 thôn 2, xã Lộc Châu, TP Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Nhà thơ dắt díu gia đình từ Sài Gòn lên Bảo Lộc, từ năm 1979 với tâm trạng xa lánh nơi phố thị. Trong những năm sau miền Nam giải phóng, có một số văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ vẫn tìm cách vượt biên. Trong khi đó thi sĩ Nguyễn Đức Sơn quyết tâm ở lại và tìm đường lên rừng khai hoang. Gia đình ông tiếp quản một diện tích đất rừng đồi Phương Bối khá lớn (chừng 25ha) do thiền sư Thích Nhất Hạnh giao lại. Đó là một đồi hoang dại nơi thiền sư mua để mở thiền viện nhưng do thời thế nên phải ra đi.

Cao nguyên nỗi hẹn không lời -1
Một bản người Mạ ở xã Dam Bri Bảo Lộc.

Gia đình Nguyễn Đức Sơn bắt đầu từ việc khai khẩn đất trồng cây. Vợ chồng và con cái của thi sĩ sống cùng những người dân tộc Mạ ở đó. Họ đã phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt cùng với thú dữ cọp beo bên chân đèo Bảo Lộc. Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn kiếm củi đi bán để nuôi vợ con. Cả nhà chỉ ăn khoai và hoa quả rừng quanh năm.

Nhưng với thơ, thi sĩ Nguyễn Đức Sơn luôn say sưa và ngang tàng như những chàng trai người Mạ săn thú trên rừng. Mặc cho những khó khăn gian khó, thơ ông luôn rạo rực: “Khi thấm mệt tôi luồn ra núi/ Cuối chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ/ Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi/ Nghe nắng tàn run rẩy nắng cây khô/ Chân rã rời tôi đi luồn ra núi/ Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô” (Một mình đi luồn vô luồn trong núi chơi).

Cuộc sống hoang dã khởi động với mô hình gần như thời nguyên thủy vậy. Chính vì thế nguồn sinh lực trong thơ ông cũng mang nét trần trụi hồn nhiên. Đó là những câu thơ gây ấn tượng rừng rú: “Trưa đứng một mình đợi ai lên/ Đất trời đâu có dưới có trên/ Đồi cao ổi sót rụng một trái/ Dòi ăn một bên ta một bên” (Cuối thu ở Phương Bối).

Đời sống hoang dã ấy đã tạo nên một hồn thơ Nguyễn Đức Sơn mỗi lúc một kỳ lạ. Giọng thơ mỗi lúc một phong trần nhưng luôn ẩn giấu nỗi buồn. Đôi lúc, nhà thơ tự an ủi mình khi đổi giọng tạo những hình ảnh trần trụi trong đời sống. Nhưng cuối cùng ông vẫn trở về với sự cô đơn bất tận trong tâm hồn: “Một ngày đau khổ chín trong tôi/ Tôi đến bên cây lẳng lặng ngồi/ Cây thả trái sầu trên nước lắng/ Mặt hồ tan vỡ ánh sao trôi” (Tôi thấy mây rừng).

Rừng thông Phương Bối

Rừng thông Phương Bối được hình thành bởi sự đắm đuối và điên rồ của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn trong suốt cuộc đời mình. Ông mải miết trồng thông đến kiệt sức mặc kệ sự đói kém gia đình. Vậy mà vợ chồng ông vẫn yêu thương và sinh hạ thêm tất cả tới 8 người con. Đói kém và con cái thất học nhưng ông vẫn chỉ trồng thông. Trong khi đó những ngọn đồi của người khác luôn xanh mướt đồi chè và cà phê. Sống trong nghèo đói đến nỗi ông phải gửi con vào chùa để được học. Nhưng thi sĩ vẫn chăm chút cả vạn cây thông trên đồi cao.

Giờ có gốc cây thông to tới vài người ôm mới xuể. Thật đúng với nghĩa rồ dại và điên khùng và thơ ông đã viết về mình: “Có một con dế què/ Cánh mòn đập rè rè/ Không ai nghe/ Kiến bu trần trụi cuối hè” (Cảnh đời). Nhưng không ngờ, đến nay đồi thông Phương Bối đã trở thành điểm du lịch độc đáo của Bảo Lộc. Một rừng thông đẹp đến ngỡ ngàng cho du khách. Dường như mỗi cây thông là một câu thơ hay của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn. Ông ra đi trong một ngày xuân đẹp như thơ vậy: “Rồi mai huyệt lạnh anh về/ Ru nhau gió thổi bốn bề biển xưa/ Trăng tà đổ bóng cây thưa/ Mộng trần gian đã hái vừa chưa em” (Tịch mạc). Và mộng trần gian một rừng thông (gần 10ha) đã để lại cho vợ con ông cùng những người Mạ sinh sống trên xứ sở BLao thần tiên.

Mai Đỗ

Các tin khác

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...