Cần khai mở lịch sử và văn học trung đại của người Mường Hòa Bình

Trải qua chiều dài lịch sử, người Mường nói chung, người Mường Hòa Bình nói riêng cùng cả nước Việt Nam đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Tuy nhiên đến nay lịch sử và văn học trung đại, cận đại của người Mường Hòa Bình rất mỏng (thời trung đại gần như không có gì thể hiện bằng văn bản).

Đã thế, những nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh Hòa Bình lâu nay cũng không có mấy quan tâm đến giai đoạn này. 

Từ đó có thể nói, lịch sử và văn học trung đại và cận đại của tỉnh Hòa Bình đang còn là một khoảng trống. Khoảng trống này đang tạo thiệt thòi cho người Hòa Bình, khó khăn trong giảng dạy lịch sử địa phương của các cấp, các trường học. Không ít người có chung tâm sự, tỉnh Hòa Bình thành lập năm 1886, đến 2021 mới là 135 năm, thế trước đó vùng đất này thế nào, có những nhân vật, sự kiện gì trong lịch sử chung của cả nước?

Trước hết xin điểm lại một số tác phẩm sớm viết về người Mường, tỉnh Mường. Từ đầu thế kỷ hai mươi, các học giả Pierre Grosst, Jeann Cuisinier người Pháp hay Trần Từ (Nguyễn Đức Từ Chi) người Việt đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết nghiên cứu về người Mường, tỉnh Mường. Nhưng căn cứ tác phẩm của họ thì thấy, họ mới kịp nghiên cứu những điều chung về dân tộc học, chế độ nhà lang, ruộng đất, các nghi lễ, tổ chức săn bắn, tổ chức làng Mường… chứ chưa kịp viết về lịch sử về văn học của Hòa Bình.

Tấm bia Hạ Mã tại cổng làng Thao Cả, xã Vĩnh Tiến, Kim Bôi, Hòa Bình!
Tấm bia Hạ Mã tại cổng làng Thao Cả, xã Vĩnh Tiến, Kim Bôi, Hòa Bình!

Rất may khi học giả Pierre Grori viết cuốn “Tỉnh Mường Hòa Bình” xuất bản lần đầu tiên năm 1926 bằng tiếng Pháp, trong đó có 37 trang gần như biên niên sử ghi trong khoảng thời gian ngắn từ khi thành lập tỉnh Mường 1886 đến năm 1910 (24 năm).

Cuốn thứ hai: “Người Mường địa lý nhân văn và xã hội học” của tiến sỹ văn học Jeann Cuisiner xuất bản lần đầu vào năm 1948 dày gần 900 trang kèm gần 126 ảnh đen trắng, được coi là nguồn tài liệu, cứ liệu đồ sộ, phong phú, được trình bày một cách khoa học – nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về dân tộc Mường Việt Nam, được các nhà khoa học đánh giá cao… thì nội dung đúng như tên sách chỉ tập trung vào địa lý, nhân văn của vùng người Mường, trong đó có tỉnh Mường Hòa Bình chứ không viết hay nghiên cứu lịch sử hay đề cập đến văn học.

Cuốn thứ ba: “Người Mường ở Hòa Bình” của Trần Từ tức Giáo sư Nguyễn Đức Từ Chi, sách dày 371 trang, nhưng cũng là đi sâu hơn, kỹ hơn về ruộng lang, cạp váy Mường, vũ trụ luận Mường qua đám tang, người Mường và tiếng Mường chứ không viết về lịch sử tỉnh Mường.

Theo thiển nghĩ của chúng tôi về sự trống vắng này có mấy nguyên nhân:

Thứ nhất, thời trung đại, vùng Mường tức tỉnh Hòa Bình hiện nay thuộc các tỉnh khác như Sơn Tây, Hưng Hóa, Thanh Hóa, Ninh Bình và Hà Nội… mà đối với các tỉnh kia thì các vùng Mường ven, có thể coi là phụ cận nên có thể cũng không được chú ý. Đến 1886, thành lập tỉnh Mường thì tỉnh Mường của người Mường chứ không phải của người An Nam (người Kinh theo cách gọi của người Pháp), nên những học giả, trí thức người Kinh không quan tâm viết về vùng Mường. Mặt khác, chính người Mường cũng không muốn bộc lộ mình. 

Tiến sỹ văn học Jeanne Cuisinier đã nhận xét: “Một vài gia đình phong kiến, từ đời này qua đời khác, giữ những tập biên niên của gia đình giống như những cuốn “gia phả” của người Annam, song những gia đình này rất không muốn cho người lạ xem những tập đó và người ấy sẽ bị mất mối thiện cảm của họ nếu như cố ý nài xem những tài liệu đó” (trang 24 – Người Mường địa lý và nhân văn – Nhà xuất bản Lao động dịch nguyên bản LES MUONG géographie hunaine. Musée  de Lhomme, Palais  de  Chailot, Place du Trocad é ro (16e) – 1948).

Thứ hai, đối với người Mường kể từ sau cách mạng tháng Tám 1945 và thậm chí ngay cả đến nay lại ảnh hưởng yếu tố thời cuộc. Lịch sử trung đại, cận đại của người Mường gắn với lịch sử chế độ lang đạo hay chính là lịch sử nhà lang, do đó càng không được quan tâm nghiên cứu. Không những thế, rất nhiều sách ghi bằng chữ Hán – Nôm của người Mường do các nhà lang lưu giữ bị tiêu hủy. Từ đó càng tạo sự mặc cảm đối với những trí thức, nhà lang Mường, đến nỗi họ phải giấu kín những sách, những sắc phong chữ Hán – Nôm mà gia đình họ có.

Thứ ba, khi có ý kiến nghiên cứu về lịch sử, văn học trung đại của người Mường thì không được mấy người quan tâm, thậm chí còn bị cho là “dở hơi” vì “Người Mường làm gì có chữ viết mà tìm văn bản...”. Họ không biết rằng người Mường đã dùng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ cùng với người Kinh. Các dòng họ lớn của người Mường gắn với các triều đại phong kiến Việt Nam và nối đời làm quan lang lãnh đạo dân Mường. Ngay từ khi chưa thành lập tỉnh Mường thì không ít nhà lang Mường được triều đình điều đi cai quản các vùng Mường ở Sơn Tây, Hưng Hóa, Ninh Bình, Hà Nội, Hưng Yên…

Nhiều người Mường là tướng giỏi: có người Mường họ Đinh Công ở mường Động, Bạch Công ở Nật Sơn, Quách Tất ở Lạc Thủy… được coi là người của Hoàng tộc (sách của người Pháp đã đề cập). Ông Đinh Như Lệnh, sinh 1365, làm tướng dưới thời vua Trần Dụ Tông; ông Đinh Quý Khiêm được phong Phụ quốc tướng quân; Ông Đinh Văn Cương được nhà Lê phong “Phụ quốc Thượng tướng quân Uy lộc hầu; Ông Đinh Công Trinh được triều hậu Lê phong Quận công Tuyên úy sứ và đã từng tụ quân ở Ngọc Lâu – Lạc Sơn rồi cho người vào Thanh Hóa đón Lê Đạt, Lê Cán ra phục dựng nhà Lê. 

Về đời tư, ông Đinh Công Trinh có bà vợ thứ 4 là nguyễn Thị Ánh, chị em cùng cha khác mẹ với đại văn hào Nguyễn Du; Tuần phủ Đinh Công Xuân người gốc mường Động được người Kinh làng Hòa Trúc, huyện Quốc Oai lập đền thờ; ông Quách Đình Nhật gốc ở mường Nội, xã Hạ Bì làm quan Át sát tỉnh Sơn Tây; Tuần phủ Đinh Công Thịnh là người đầu tiên thành lập Trường Kỹ nghệ tại tỉnh Hòa Bình…

Về văn học trung đại và cận đại của tỉnh Hòa Bình, chúng ta đã từng biết đó là: Thơ khắc đá của vua Lê Lợi từ 1432 tại Chợ Bờ (nay còn bài thơ trên bia đá); Truyện thơ viết về ông Đinh Công Trinh dài 348 câu viết bằng chữ Hán – Nôm đã được dịch ra chữ quốc ngữ và đã xuất bản; Diễn ca Hòa Bình quan Lang sử khảo dài 340 câu của ông Quách Điêu (Đồ Gàn) in trên Tạp chí Nam Phong số 100 năm 1925, từ trang 359 đến 363 và nhiều bài báo khác của ông. 

Đáng chú ý hơn khi đọc được thông tin của Bùi Thế Tùng: Trong cuốn từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Thế Bá do Nhà Xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2006 đề cập đến một nhân vật là Quách Điêu, nhà văn, biệt hiệu Đồ Gàn, không rõ năm sinh, năm mất. Người dân tộc Mường quê ở Mãn Đức, Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình. 

Ông vốn dòng dõi quan Lang, thông Hán văn, nghiên cứu nhiều về lịch sử và phong tục người Mường, biên soạn bộ “Hòa Bình quan lang sử khảo”. Sách ông có chép trong Minh Đô sử và được Sở Cuồng Lê Dư giới thiệu trong Tạp chí Nam Phong trước năm 1945 ở Hà Nội. “Hòa Bình tỉnh quan lang sử khảo” do ông biên soạn dựa theo “Minh Đô sử”. Theo Sở Cuồng Lê Dư giới thiệu trong Nam Phong vào năm 1925 (Ất Sửu Khải Định thứ 10). Sách chép các sự việc của người Mường theo lịch sử có hệ thống từ cuối đời Hùng Vương…

Để kết bài viết ngắn này, chúng tôi đưa đến bạn đọc một thông tin đến ngỡ ngàng, đó là có một con đường ở TP Hồ Chí Minh mang tên người Hòa Bình - đường Quách Điêu. (Nhờ nhà giáo Bùi Định, tôi biết được thông tin này). Tra trên mạng thì biết, đường Quách Điêu chạy qua xã Vĩnh Lộc A dài 3.408m, rộng 7,5m, hai làn xe. 

Cuối năm 2019, nhà nước đầu tư 49 tỷ 733 triệu đồng nâng cấp đường Quách Điêu trong sự vui mừng của nhân dân trong vùng. Việc một người Mường Hòa Bình được mang tên một con đường tại TP Hồ Chí Minh vừa là niềm tự hào, vừa đặt ra trách nhiệm cho giới nghiên cứu về lịch sử, văn học trung đại, cận đại của tỉnh Hòa Bình còn rất nhiều điều đáng quan tâm và làm rõ!

Lê Va

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.