Cảm hứng bất tận về Đất nước trong một thi phẩm của Trần Vàng Sao

Trần Vàng Sao (1942-2018) tên thật là Nguyễn Đính, sinh tại Thừa Thiên Huế. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Trần Vàng Sao vào học Đại học Huế và tích cực hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên cùng thế hệ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha.

Sau đó ông tiếp tục hoạt động ở chiến khu Thừa Thiên, đến năm 1970 ông được đưa ra Bắc an dưỡng và chữa bệnh, sau 1975 ông mới trở về Huế làm công tác văn hóa và sáng tác. Thi phẩm "Bài thơ của một người yêu nước mình" được sáng tác vào tháng 12/1967 tại Huế trong những năm ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cảm hứng bất tận về Đất nước trong một thi phẩm của Trần Vàng Sao -0

1. Đất nước là một đề tài lớn, là dòng chủ lưu trong Văn học Việt Nam hiện đại, mỗi nhà thơ khi nói về Đất nước đều đem đến những cách nhìn, cách cảm riêng của mình, đó là một Đất nước đau thương và anh dũng trong thơ Nguyễn Đình Thi, một Đất nước của nhân dân, của ca dao trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, một Đất nước hào sảng, thiêng liêng trong thơ Lưu Quang Vũ… Giữa muôn vàn sắc điệu về Đất nước, Trần Vàng Sao góp vào dòng chảy ấy những cảm nhận riêng của mình.

Trước hết, Đất nước được gợi lên từ những kí ức tuổi thơ của một cậu bé nghèo ở một miền quê. Đất nước gắn liền với kí ức của một buổi sáng với không gian tràn đầy những thi ảnh lấp lánh qua cảm nhận tuổi thơ với gió thổi mát lành, hương lúa mùa qua, bầy sẻ trước sân nhà, cỏ may và muộng chuộng, tiếng cười lạ, câu ca dao buồn có hoa bưởi, hoa ngâu, hay tiếng còi tàu của sự chia li. Qua cảm nhận của nhà thơ, Đất nước cũng không còn là một khái niệm trừu tượng, không xa vời mà trở nên hết sức giản dị, thân thuộc, gắn liền với cuộc sống con người:

Buổi sáng tôi mặc áo đi giày
ra đứng ngoài đường
Gió thổi những bông nứa trắng bên sông
Mùi toóc (1) khô còn thơm lúa mùa qua
Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
Những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
Tôi yêu đất nước này như thế
Mỗi buổi mai
Bầy chim sẻ ngoài sân
Gió mát và trong
Đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
Tôi vẫn sống
vẫn ăn
vẫn thở
như mọi người…

2. Khi nói về Đất nước, Trần Vàng Sao cũng cảm nhận Đất nước từ chiều sâu văn hóa, lịch sử dân tộc. Đó là một Đất nước hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử với truyền thuyết thiêng liêng về cội nguồn dân tộc với cha Rồng, mẹ Tiên, với quá trình mở mang và giữ gìn bờ cõi. Nhiều câu thơ lấy ý từ ca dao với nhiều hình ảnh quen thuộc như hoa bưởi, hoa ngâu, cầu Ái Tử, mảnh áo, cây cầu, củi than, rau cháo, cánh chim, chuối ba hương… cùng điệu hò mái nhì, mái đẩy, câu vọng cổ da diết. Tất cả điều đó góp phần hình thành những câu thơ bay bổng, dạt dào cảm xúc:

Tôi yêu đất nước này rau cháo
Bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu
Áo đứt nút qua cầu gió bay
Tuổi thơ em hãy giữ cho ngoan
Tôi yêu đất nước này lầm than
Mẹ đốt củi trên rừng cha làm cá ngoài biển
Ăn rau rìu rau có rau trai
Nuôi lớn người từ ngày mở đất
Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật
Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ
Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng.

Thi phẩm "Bài thơ của một người yêu nước mình" ra đời trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, như một lẽ tự nhiên, Trần Vàng Sao đã ý thức được nước Việt Nam là một thực thể thống nhất, không thể chia cắt Bắc Nam. Từ đó nhà thơ cất cao tiếng nói đấu tranh cho độc lập, tự do và khát vọng hạnh phúc chính đáng của con người.

Khát vọng thống nhất non sông, không phân biệt bên này/ bên kia ngay ở thời điểm đó đã khẳng định lập trường nhất quán của Trần Vàng Sao, trước khi là nhà thơ ông là người công dân xác định rõ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Đất nước. Nhà nghiên cứu Hồ Thế Hà nhận định: “Bài thơ này là sự hóa giải cho chính nhà thơ và cho mọi người về một tình yêu có sức ám ảnh lớn: tình yêu Tổ quốc. "Bài thơ của một người yêu nước mình" là điển hình cho phong cách thơ Trần Vàng Sao”.

Đất nước này còn chua xót
Nên trông ngày thống nhất
Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc
Lòng vui hôm nay không thấy chật
Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm người
Cứ trông đất nước mình thống nhất.

3. Đất nước gắn liền với hình ảnh mẹ, Trần Vàng Sao đã dành rất nhiều trường đoạn trong bài thơ để nói về người mẹ, đó là người mẹ nghèo khổ, góa chồng sớm nhưng lặng lẽ nuôi con khôn lớn. Người mẹ được phác họa bằng những chi tiết chân thực qua công việc và đời sống hàng ngày, đó là người mẹ lam lũ, tảo tần thức khuya dậy sớm gạo chợ nước sông, nhà quanh năm không lúc nào vắng người đòi nợ, người mẹ góa chồng đã mười mấy năm, cuộc sống lam lũ nên mẹ ít khi cười, ngồi một mình thường khóc cùng những tiếng thở dài và trên hết là tình thương dành cho đứa con sớm mất cha.

Chỉ qua bằng ấy nét phác họa, chúng ta đã hình dung về người mẹ, một người mẹ chịu bao vất vả, hy sinh, vượt lên mất mát, đau thương nuôi con. Người mẹ góa bị họ hàng khinh rẻ nhưng nhẫn nhục chịu đựng nuôi con khôn lớn thành người:

Thương con không cha
Hẩm hiu côi cút
Tôi yêu đất nước này xót xa
Mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
Thương tôi nên ở góa nuôi tôi
Những đứa bà con nhà giàu hằng ngày chửi bới
Chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc,
như cho một đứa hủi
Ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới
Thắp ba cây hương
Với mấy cái bông hải đường
Mẹ tôi khóc thút thít
Cầu cha tôi phù hộ tôi nên người
Con nó còn nhỏ dại
Trí chưa khôn chân chưa vững bước đi

Tình yêu Đất nước và tình yêu người mẹ sóng đôi tạo mạch cảm xúc chân thành mà tha thiết, sâu lắng. Tình yêu Đất nước được bắt đầu từ những gì gần gũi, thân thuộc của mỗi con người. Trong bài thơ, rất nhiều lần Trần Vàng Sao nhắc đến lời khấn thầm của mẹ trong đêm, lời khấn mong con khôn lớn, tai qua nạn khỏi, chỉ điều đó thôi cũng đủ nói trái tim người mẹ cao cả biết nhường nào.

Trong lời đề tựa cho tập thơ cùng tên của Trần Vàng Sao, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết: “Thơ của Trần Vàng Sao chính là cuộc đời ông. Thơ ông hiện ra như chính áo quần ông, tóc tai ông, hơi thở ông, ánh mắt ông, giọng nói ông, cảm giác ông, mồ hôi ông, đau đớn ông, giận dữ ông, giày vò ông, tuyệt vọng ông, khát vọng ông và nhịp đập trái tim ông là thứ kỳ diệu nhất gắn kết toàn bộ những gì thuộc về ông để vang lên thành thi ca. Bởi thế, thơ ông chân thực và mãnh liệt như máu chảy trong huyết quản ông”.

4. Thi phẩm "Bài thơ của một người yêu nước mình" cũng thành công trên nhiều phương diện về nghệ thuật. Ngôn từ, hình ảnh được khái quát từ đời sống nên giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi hình, gợi cảm. Sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình trong bài thơ cũng đem lại cách nhìn, cách cảm riêng về Đất nước, từ đó giúp nhà thơ khái quát về Đất nước trên nhiều khía cạnh, nhiều bình diện.

Nhiều hình ảnh ví von, so sánh, diễn đạt mới lạ, giàu sức liên tưởng (Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen/ Ve sắp kêu mùa hạ/ Nên không còn mấy thu/ Lòng vui hôm nay không thấy chật). Điểm nổi bật nhất phải kể đến là cảm xúc của bài thơ được bộc lộ chân thành, tình yêu Đất nước được bộc lộ trực tiếp qua nhiều câu thơ có kết cấu trùng điệp trải dài khắp bài thơ, mỗi lần nhắc lại như một điệp khúc ngân vang tạo hiệu ứng cảm xúc cho bài thơ (Tôi yêu đất nước này những buổi mai/ Tôi yêu đất nước này áo rách/ Tôi yêu đất nước này và tôi yêu em/ Tôi yêu đất nước này rau cháo/ Tôi yêu đất nước này lầm than/ Tôi yêu đất nước này chân thật/ Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi…). Đây cũng là bài thơ rất đa dạng về giọng điệu, khi tự hào, khi uất nghẹn, khi tủi hờn, khi tha thiết, khi lắng sâu, khi hy vọng… phù hợp với mạch cảm xúc ở từng đoạn thơ.

Trong sự phong phú của cảm nhận về Đất nước của thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trần Vàng Sao như là những người đi đầu cho xu hướng mới mẻ để cùng và sau đó là Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo… cũng có những sáng tác về Đất nước với chiều sâu của cảm xúc và suy ngẫm. Mặc dù sáng tác không nhiều và không liên tục nhưng Trần Vàng Sao đã xác lập cho mình một vị trí xứng đáng trong nền Văn học Việt Nam hiện đại. Để khép lại bài viết này, xin mượn đôi câu thơ của nhà thơ lớn viết về Trần Vàng Sao: “Người liêu xiêu thơ liêu xiêu/ hồn thơ của một người yêu nước mình”.

----------

(1) Phương ngữ Quảng Trị, “toóc” có nghĩa là rạ, tức phần dưới của thân lúa còn lại sau khi gặt xong.

Nguyễn Quỳnh Anh

Các tin khác

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.