Bồi hồi tiếng mõ Quỳnh Trân

Dòng người nối đuôi nhau vào chùa Mõ (thôn Nghi Dương, xã Ngũ Phúc) để chầu lễ. Đây là ngôi chùa cổ nhất được dựng tại khu đất bên sông Văn Úc.

Chúng tôi theo con đò rẽ vào sông Văn Úc (nhánh sông Thái Bình) bên những đường hoa cỏ trắng muốt. Tiếng mõ từ bên làng Ngũ Phúc (Kiến Thụy-Hải Phòng) mỗi lúc một dồn dập. Mấy người đi chợ nói năm nay Ngũ Phúc được mùa to. Họ đi trẩy hội mùa xuân. Làn điệu chèo rộn ràng chào đón khách bốn phương trở về dâng hương tưởng nhớ đến công chúa Quỳnh Trân. Bà là người đã khai thiên lập địa nên mảnh đất trù phú này.

Đền Mõ.
Đền Mõ.

Mối tình tuyệt vọng nơi cung cấm

Dòng người nối đuôi nhau vào chùa Mõ (thôn Nghi Dương, xã Ngũ Phúc) để chầu lễ. Đây là ngôi chùa cổ nhất được dựng tại khu đất bên sông Văn Úc. Sau đó hình thành khu dân cư vùng năm xã chung quanh. Chúng tôi dừng chân bên cây gạo đã hơn 700 năm do chính tay công chúa Quỳnh Trân trồng từ khi mới dựng am tu hành. Ngay cạnh cây hoa gạo cổ đại có một tấm bia đá khắc hơn ngàn chữ. 

Tấm bia ký kể lại câu chuyện về cuộc đời truân chuyên của công chúa Quỳnh Trân và công đức của bà với dân làng Ngũ Phúc. Câu chuyện ngỡ như cổ tích nhưng lại có thật vào thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278).

Tương truyền công chúa Quỳnh Trân được sinh ra đúng như trong giấc mộng của vua cha Trần Thánh Tông. Người ta kể ngay khi mới sinh, công chúa đã có nhan sắc tuyệt mỹ. Lời xưa ghi lại rằng: “Sắc như bình bạc. Mặt tựa gương báu. Thân thể vẻ hoa nở sáng trăng; Dung nghi giống như xuân sơn, thu thủy, vẻ người đoan chính”. Vua cha đặt cho cái tên là A nương Quỳnh Trân. 

Công chúa càng lớn lên càng xinh đẹp và làm bao công tử trong triều mộng ước uyên ương. Trong đó có chàng Trần Quốc Nghiễn, con trai của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đem lòng yêu mến và muốn lấy Quỳnh Trân làm vợ. Chàng đã nói với cha dạm hỏi nhà vua để cưới Quỳnh Trân.

Nhưng trớ trêu thay, trái tim công chúa Quỳnh Trân trước đó đã rung động và trao gửi tình cảm cho Trần Khánh Dư. Đây là một tướng trẻ có công đánh giặc Nguyên xâm lược nước ta (năm 1257) và đã được Vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi. Hai người yêu nhau ngày càng mặn nồng và họ có mộng ước trăm năm. 

Nhưng mọi chuyện bỗng dừng lại khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ngỏ lời với Vua Trần Thánh Tông muốn đưa Quỳnh Trân về làm dâu con trong nhà. Vua đành nhận lời cho dù biết rằng con gái sẽ vô cùng đau khổ khi phải chia tay mối tình say đắm của mình. 

Một đám cưới đã được tổ chức. Công chúa Quỳnh Trân gạt nước mắt nhìn Trần Khánh Dư dằn vặt trong chia ly. Nàng về nhà chồng nhưng hồn xiêu phách lạc chốn nao. Tình yêu của nàng với Trần Khánh Dư vẫn luôn day dứt khôn nguôi.

Không thể dừng lại khi tình yêu vẫn nồng nàn cháy bỏng, công chúa Quỳnh Trân và tướng Trần Khánh Dư lén lút hẹn hò. Mỗi lần gặp lại thêm vấn vương. Họ lại thề non hẹn biển trong khổ đau. Tình yêu làm họ mù quáng thảm thương. 

Quân sĩ nhà chồng bắt quả tang và Trần Khánh Dư bị tước quân tịch, nhận đòn đánh đến suýt mất mạng. Nhưng do được lệnh ngầm của Vua Trần Nhân Tông (em của Quỳnh Trân mới lên ngôi), quân sĩ chỉ đánh Trần Khánh Dư ngất xỉu rồi lén đuổi về quê sinh sống. Trong khi đó Quỳnh Trân bị gia đình nhà chồng nhốt trong cung cấm. Hôn nhân coi như tan vỡ. Nàng bị bỏ rơi.

Câu chuyện chưa dừng lại khi hơn 20 năm sau, quân Nguyên lăm le xâm lược nước ta lần thứ hai. Trần Khánh Dư lại được triệu về thành nhậm chức Phó đô tướng quân chỉ huy đánh giặc. Tuy thời gian đã trôi qua khá dài nhưng tình cảm giữa Quỳnh Trân và Trần Khánh Dư vẫn còn quyến luyến nhớ thương. Cuộc tình lại được chắp nối. Họ lại vụng trộm hẹn hò tơ vương bao nỗi. 

Việc này ngay lập tức bị phát hiện. Vua Trần Nhân Tông vì đại cục cuộc chiến nóng bỏng và giữ thể diện cho vương triều nên đã ra lệnh cho Quỳnh Trân phải rời xa kinh thành. Vua đã ép chị mình xuất gia ở một nơi hoang vắng trên một gò đất cao bên sông Văn Úc. Một am nhỏ đã mọc lên và từ đó Quỳnh Trân đậu bến tu hành (1283). 

Chùa Mõ và đền Mõ

Người hướng dẫn viên nói cái am nhỏ xưa chính là ngôi chùa rộng lớn được xây dựng như hiện nay. Rồi ông kể tiếp câu chuyện bên cây gạo đang trổ những búp tơ. Dân làng Ngũ Phúc này là do công chúa Quỳnh Trân gọi về. Đầu tiên bà cho mở một khu chợ bên sông. Người tứ xứ thấy nơi đây có ngôi chùa thanh tịnh nên quy tụ về mở đất chung quanh khu gò cao. 

Một thời bà đã dùng tiếng mõ để điều hành công việc và sinh hoạt của dân Ngũ Phúc. Khi ra đồng hay khi ăn uống nghỉ ngơi, dân làng đều theo quy định tiếng mõ của nhà chùa. Ngay cả khi nạn cướp trộm xảy ra, tiếng mõ dồn dập cũng là hiệu lệnh tập họp khẩn cấp của dân làng. 

Đời sống dân làng ổn định và ấm no. Dần dần một làng rồi hai ba làng hình thành. Xã Ngũ Phúc ra đời từ đó. Ngôi chùa được mọi người gọi bằng cái tên thân thương là chùa Mõ.

Lễ hội Đền Mõ.
Lễ hội Đền Mõ.

Sau này, cả năm xã quanh vùng đều được hưởng lộc của công chúa Quỳnh Trân. Họ được hưởng miễn thuế trong một thời gian dài và tự do mở mang đất đai canh tác. Sau khi công chúa Quỳnh Trân tạ thế (3/11/1308), người dân tôn bà làm thánh và dựng đền thờ (đền Mõ) bên cạnh chùa Mõ. 

Hiện đền Mõ còn giữ 11 sắc phong của những triều đại đã tôn vinh bà. Trong đó có chiếu chỉ của Vua Trần Anh Tông (1283-1314) phong bà với chức sắc “Trần triều A nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa”. Người dân quanh năm xã đều tôn công chúa là bà Chúa Mõ. Lễ rước bài vị “Chúa Mõ” được diễn ra hằng năm vào ngày 12/2 âm lịch.

Điều đặc biệt gắn với sự ra đời của chùa Mõ là cây gạo do công chúa Quỳnh Trân trồng được gắn bằng Di sản quốc gia. Cây gạo cao hơn 30 mét và có gốc cây cổ thụ mười người bao ôm. Nó được xác lập kỷ lục già nhất ở nước ta với 735 năm tuổi. Người hướng dẫn bất ngờ đọc những câu thơ của danh sỹ Nguyễn Thông viết khi tới đây. Lời thơ chất chứa nét thâm trầm và khí phách của Quỳnh Trân qua bài vịnh bên cây gạo. 

Giọng người hướng dẫn viên ấm áp ngân vang: “Bao triều đại chìm vào quá khứ/ Những đền đài, thành quách đã nên rêu/ Cả những bậc quân vương từng ngạo nghễ/ Chẳng để lại gì trong nấm cỏ tiêu điều/ Ta sống với nhân dân giữa xanh tươi đồng ruộng/ Bảy tám trăm năm như chớp mắt sá gì/ Hoa vẫn nở tháng ba từ dạo ấy/ Thuở Quỳnh Trân công chúa rủ ta đi/ Gốc có vững mới mong dân thờ cúng/ Nén hương thơm, thơm ngát cả bốn mùa/ Trăm trận bão có khi cành tan tác/ Càng thương cụ từ già thao thức suốt đêm khuya”.

Dân làng còn kể hồn bà Chúa Mõ vẫn hiện về phù hộ cho mùa màng tươi tốt. Thường vào cuối xuân, tán hoa gạo đỏ rợp trời tựa tấm áo cà sa che chở khắp dân quê. Những sợi bông tung tỏa đậu trên đường làng trắng như tuyết vậy. Trong làng vẫn truyền tụng câu ca: “Bông trắng bay rợp trời/ Hoa và hoa rực rỡ/ Tình người luôn thắm đỏ/ Gieo lộc đời sinh sôi”. Nhiều đôi hiếm muộn thường tìm về chùa lấy ít vỏ cây gạo thần về sắc uống sẽ hiệu nghiệm. Chính vì thế cây gạo còn được gọi là cây Phúc. 

Những làn điệu chèo bên sông

Người hướng dẫn còn cho biết vào những năm giặc Mỹ đánh phá Hải Phòng, chùa Mõ chính là nơi đóng quân của đơn vị phòng không. Cây gạo xanh tốt xum xuê che chở cho những chiến sĩ kiên cường chiến đấu bảo vệ thành phố biển anh hùng. 

Giờ đây sân chùa đã dành cho những lễ hội rước bà cùng những chiếu chèo rộn ràng mỗi mùa xuân về. Nhịp phách tre chính là nhịp mõ của công chúa Quỳnh Trân nhập về trong những làn điệu vui tươi. Những đội chèo trong xã thay nhau tập luyện ở sân chùa và sân đình. Đó chính là những ngôi nhà văn hóa cổ kính luôn vang vọng hồn quê.

Ở đây họ đều hát những làn điệu mời trầu đón khách rộn ràng. Lời xưa đâu đó gọi mời rằng: “Người về dọn quán bán hàng/ Để tôi là khách qua đàng vào chơi/ Mỗi người mỗi chốn mỗi nơi/ Gặp nhau ta kết thành đôi vợ chồng…”. Phải chăng đó là giấc mơ về hạnh phúc mà bà Chúa Mõ đã để lại. Một ước vọng về tình yêu trọn vẹn và một đời sống chết vì nhau. Những tiếng mõ vẫn đều đều niệm Phật. Chúng tôi như chìm trong một thế giới âm thanh mộc mạc vang lên như tiếng tình yêu bay trong gió lộng sông trôi.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...