Bị từ chối hôn nhân vì quá điển trai và hát hay

Đó là chuyện của Dương Thiệu Tước - một nhạc sĩ rất nổi tiếng của dòng nhạc ta vẫn quen gọi là “tiền chiến”. Tên tuổi ông xuất hiện cùng thời với những nhạc sĩ Phạm Duy, Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên, Lê Thương, Doãn Mẫn, Nguyễn Xuân Khoát… Ông là một trong những nhạc sĩ đi tiên phong trong việc thúc đẩy sự phát triển của tân nhạc Việt Nam.

Ông cũng là người chủ trương học nhạc Tây nhưng khi sáng tác thì phải dựa trên nền tảng âm nhạc dân tộc, thắm đẫm hồn dân tộc. Vậy nên, tất cả những ca khúc của ông đều rất ít bị ảnh hưởng âm nhạc phương Tây mà hồi đó nhiều nhạc sĩ khó tránh khỏi.

Tên tuổi của Dương Thiệu Tước gắn liền với những bài hát vang bóng một thời: “Đêm tàn bến Ngự”, “Ngọc Lan”, “Áng mây chiều”, “Bóng chiều xưa”, “Dòng sông xanh”, “Bến xuân xanh”, “Tiếng xưa”, “Khúc nhạc dưới trăng”, “Kiếp hoa”… và hai bài phổ thơ “Thề non nước” của Tản Đà và “Chiều” của Hồ Dếnh. Tất nhiên, những bài trên ra đời và nổi tiếng trong quá khứ đã xa nên chỉ công chúng ở tuổi từ 80 trở lên mới có thể biết. Những bài hát của ông phần nhiều xoay quanh chủ đề tình cảm lứa đôi và tình yêu, hoài niệm về quê hương, đất nước với những nỗi niềm tâm sự của một nghệ sĩ lãng mạn, có trái tim luôn đa cảm và nhạy cảm.

duongthieutuoc.jpg -0
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Dương Thiệu Tước sinh năm 1915, quê ở Vân Đình, Ứng Hòa (Hà Tây cũ, nay thuộc về Hà Nội). Ông xuất thân gia đình Nho học, có người ông nội là Dương Khuê từng làm đốc học ở Nam Định và là bạn rất thân của nhà thơ Nguyễn Khuyến. (Khi Dương Khuê qua đời, nhà thơ họ Nguyễn đã làm bài thơ “Khóc Dương Khuê” rất nổi tiếng, ai đọc cũng ngậm ngùi “Bác Dương nay đã thôi rồi. Cỏ cây man mác ngậm ngùi lòng ta…”).

Do có năng khiếu từ nhỏ nên Dương Thiệu Tước tiếp thu âm nhạc rất nhanh. Lên 7 tuổi, ông đã học rồi đánh thành thạo đàn nguyệt và đàn tranh. 14 tuổi học piano và 16 tuổi học thêm đàn ghita. Cậu bé Tước sớm nổi tiếng ở quê nhà do còn nhỏ đã chơi thành thạo được nhiều loại đàn cả dân tộc lẫn hiện đại. Năm 1940, gia đình ông có cửa hàng bán và sửa chữa đàn ở 57 phố Hàng Gai (Hà Nội). Do ông chơi đàn rất hay mà cửa hàng luôn đông khách.

Năm 1954, Dương Thiệu Tước 39 tuổi, cùng gia đình vào Sài Gòn sinh sống. Ông làm chủ sự phòng Văn nghệ Đài phát thanh và dạy dàn ở Trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn.

Dương Thiệu Tước có mối tình đầu đẹp như mơ nhưng dang dở. Số là khi 18 tuổi, ông tình cờ gặp và nhanh chóng yêu say đắm một cô gái tên Vi Kim Ngọc, kém mình một tuổi, có nhan sắc vô cùng kiều diễm, đã hút hồn ông ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nàng cũng không thể cưỡng lại lòng mình trước anh chàng cực kỳ điển trai, lại có giọng hát rất hay và đánh giỏi nhiều loại đàn. Hai gia đình cũng “môn đăng hộ đối”.

Cha của Tước là một viên quan trong bộ máy hành chính của Hà Nội lúc bấy giờ. Kim Ngọc là con gái Vi Văn Định khi ấy là Tổng đốc Hưng Yên. Bên nhà Tước nhanh chóng lo lễ đem sang nhà Ngọc để cầu hôn. Về sau, nhà gái phát hiện Tước chỉ đỗ bằng Điplôme, trượt Tú tài rồi vào học trường nhạc, nhưng trường này khi ấy cũng đóng cửa vì khủng hoảng kinh tế. Mọi người bàn ra tán vào, cho rằng anh chàng đàn ngọt, hát hay này quá điển trai sẽ là hiểm họa cho con gái họ, bằng cấp lại quá khiêm tốn so với gia thế nhà họ Vi. Thế là họ đã trả lại đồ lễ.

Cuộc hôn nhân không thành. Giữa lúc đó, một chàng đậu bằng tiến sĩ ở Pháp về nước tên là Nguyễn Văn Huyên đã lọt vào mắt của gia đình họ Vi. Và Vi Kim Ngọc đã nên duyên với chàng tiến sĩ trẻ này. Về sau, dưới chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nguyễn Văn Huyên nhiều năm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, có nhiều đóng góp lớn cho ngành này mà không một bộ trưởng hậu nhiệm nào sánh kịp.

Quá đau buồn trước cuộc tình không dẫn được đến hôn nhân, liền sau đó, Dương Thiệu Tước lấy vợ là cô Lương Thị Thuần, sinh liền 5 con. Cuộc sống phẳng lặng bên người vợ hiền nhưng không từ tình yêu lãng mạn giống như yêu cô Kim Ngọc, ông ít sáng tác và nếu có cũng không mấy đặc biệt.

Đến năm 1949, một “tiếng sét ái tình” lần thứ hai lại nổ ra với Dương Thiệu Tước khi có sự xuất hiện của cô ca sĩ nổi tiếng Minh Trang. Lúc này, Trang đang rất đình đám, là giọng hát chủ chốt trên Đài Pháp - Á (tiền thân của Đài Phát thanh Sài Gòn). Cô được mời ra dự Hội chợ đấu xảo ở Hà Nội để hát với dàn nhạc đệm do Dương Thiệu Tước phụ trách.

Nhạc sĩ mê nhan sắc và giọng hát tuyệt vời của Minh Trang. Cô ca sĩ sắc nước hương trời cũng biết tiếng tăm của nhạc sĩ từ trước và rất ngưỡng mộ. Điều gì đến đã đến. Năm 1951, hai người nên duyên. Nhưng phải mãi 3 năm sau - 1954 - ông mới vào Sài Gòn để chung sống với Minh Trang. Thời kỳ này ông cho ra đời nhiều sáng tác hay nhất. Cũng thật thuận tiện khi sáng tác bài nào Minh Trang cũng là người đầu tiên hát, giới thiệu ra công chúng nên nhanh chóng được mọi người biết đến.

Sau ngày 30/4/1975, Minh Trang cùng các con cư trú ở nước ngoài. Dương Thiệu Tước do đau yếu không đi được. Ông lại sống những tháng ngày cô đơn. Rồi một ngày kia, có một nơi do hâm mộ mà mời Dương Thiệu Tước đến nói chuyện về âm nhạc. Tại đây, tình cờ ông gặp lại một phụ nữ tên Nguyễn Thị Nga trước đây là học trò của mình. Nga ngày trước thầm yêu nhạc sĩ nhưng thấy người lý tưởng đã có vợ, con nên chỉ giấu kín trong lòng. Nay thương ông sống đơn lẻ đã sẵn sàng nâng khăn sửa túi. Đây là cuộc tình cuối cùng của ông. Hai người sống ở quận Bình Thạnh cho đến lúc ông qua đời vào năm 1995.

screen shot 2022-05-14 at 23.03.10.jpg -0
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và người vợ thứ 2, Minh Trang.

Tôi có sở thích rất muốn được tiếp xúc với những văn nghệ sĩ, đặc biệt trong giới âm nhạc mình ưa thích, nhất là những người sống ở miền Nam trước năm 1975. Kể cả những người đã ra sống ở nước ngoài, nếu có dịp đến đó, có điều kiện, tôi cũng cố gắng tìm gặp. Vì rất thích bài “Đêm tàn bến Ngự” mà năm 1980, một lần vào TP Hồ Chí Minh, tôi đã gặp được Dương Thiệu Tước. Lúc này, ca sĩ Minh Trang - vợ ông - đã đưa các con ra định cư ở nước ngoài. Ở tuổi 65, nhưng ông vẫn còn nguyên vẹn sự trẻ trung với những nét đẹp, hào hoa thời trai trẻ.

Ông kể tỉ mỉ cho tôi nghe đầu đuôi, xuất xứ việc cho ra đời hai bài nổi tiếng nhất là “Ngọc Lan” và “Đêm tàn Bến Ngự”. Kể xong, ông cầm đàn ghita vừa tự đệm vừa hát lại cho tôi nghe. Giọng ông vẫn còn rất vang và chuẩn xác. Ông nói mình không sinh ra ở Huế nhưng đó là quê của người vợ Minh Trang mà ông rất đỗi yêu quý nên đã cho ra được ca khúc “Đêm tàn Bến Ngự”.

Trong số hàng ngàn bài hát về Huế, tôi cho rằng bài của ông nằm trong tốp mấy chục bài rõ chất Huế nhất và hay nhất. Chắc chắn người dân Huế phải rất yêu thích bài hát này nên tên ông mới được đặt cho một đường phố tại Huế. Nghe kỹ cả bài, khó nghĩ tác giả lại không là người Huế mà là người Bắc: “Ai về Bến ngự cho ta nhắn cùng. Nhớ chăng non nước Hương Bình có những ngày xanh lưu luyến bao tình, vương mối tơ mành…”.

Tác giả cho biết khi viết bài này, ông đang ngồi thuyền dạo chơi trên sông Hương nhưng đã nhập vào tâm thế người đi xa nhớ về Bến Ngự, về Huế mà giãi bày cõi lòng và nghĩ đến một ngày phải rời xa nơi đã lưu giữ bao kỷ niệm tâm hồn sâu sắc của mình. Bài hát thấm đẫm âm hưởng các làn điệu dân ca đặc trưng của Huế, gợi hình ảnh con sông Hương thơ mộng nhưng cũng đượm vẻ u buồn cố hữu ngàn năm một cách thật sinh động.

Ông cũng kể lại tình huống cụ thể viết ra bài hát: Sau một thời gian sống ở Huế, ông quyết định vào Sài Gòn cư trú. Trước phút chia tay, bạn bè có tổ chức một bữa tiễn ông. Rượu và các món nhậu được bày trên thuyền đi dạo trên sông Hương. Khi đêm đã về khuya, các bạn còn đang vui vẻ nhậu, ông ra mũi thuyền ngồi ngắm trăng một mình, miên man cảm xúc. Rồi ý nhạc bật ra. Ông vội ghi nhanh vào một mảnh giấy rồi quay vào hát cho các bạn nghe. Ai cũng tán thưởng, thích thú.

Tôi có may mắn được dự một số buổi sinh hoạt âm nhạc của Việt kiều ở nước ngoài khi đặt chân tới đó thì thấy Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ “tiền chiến” luôn có nhiều bài được các ca sĩ hải ngoại biểu diễn, nhất là trong những dịp đại nhạc hội. Có lẽ cái chất dân tộc sớm chan chứa trong các ca khúc của ông ngay từ thời tân nhạc Việt Nam đang còn chịu ảnh hưởng nhiều của âm nhạc Tây phương đã khiến tác phẩm của ông có sức sống lâu bền.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.