Âm thầm làm việc lặng lẽ ra đi

K khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cả lớp chỉ có chừng 40 sinh viên. Đây là khóa thi vào cực khó và là sự khó khăn cuối cùng bởi ngay khóa sau, các trường tuyển sinh ồ ạt. Lớp tôi có đến gần một nửa là cán bộ đi học. Có một bạn tôi không thể đoán được là cán bộ hay học sinh phổ thông vì nếu là cán bộ thì trẻ hơn so với các cán bộ khác, còn nếu là học sinh phổ thông thì lại quá già. Bạn có tên Trần Mạnh Thường chưa một ngày làm cán bộ.

Nhưng bạn đã hơn đám học sinh chúng tôi tới 2 - 3 tuổi. Thường có hình dung, diện mạo cùng dáng điệu khác người: Áo trắng đã ngả màu cháo lòng luôn bỏ ngoài quần khá luộm thuộm. Luôn đi dép cao su không cài quai hậu. Đặc biệt là lúc nào cũng giương đôi mục kỉnh đít chai dày cộp có nhiều vòng loang loáng. Nhìn thì luôn hơi hếch mắt lên. Trông rất lơ ngơ. Nhìn bạn, tôi lại nghĩ đến nhân vật Pie Bêdukhốp trong tác phẩm văn học vĩ đại "Chiến tranh và hòa bình" của văn hào Nga Lép Tônxtôi. Chỉ khác là nhân vật này đài các, quý tộc, còn Trần Mạnh Thường thì chân chất, quê mùa.

trần-mạnh-thường-suy-tư.jpg -0
Nhà thơ Trần Mạnh Thường suy tư sáng tác trong một lần đi thực tế.

Mấy thằng học sinh người Hà Nội chúng tôi lúc đầu không mấy để ý đến ông bạn "nhà quê" người "tỉnh lẻ" này (cậu ở Nam Định). Nhưng sau đó thì nể phục khi biết Thường không phải thi mà được vào thẳng Khoa Văn do đoạt giải Nhì cuộc thi học sinh giỏi toàn miền Bắc trước đó. (Lúc này chưa thống nhất đất nước nên chỉ là miền Bắc). Nghe nói Thường giật giải không bằng một bài luận mà bằng một bài thơ viết về Tổ quốc. Tôi vốn cũng làm thơ nên ít nhiều mến mộ Thường và hai chúng tôi trở nên thân thiết nhau hơn.

Về sau, tôi càng quý, phục bạn mình khi biết mới mười mấy tuổi mà Thường đã làm được một bài thơ thật hay và đáng yêu. Bây giờ thì tôi đã quên tên bài nhưng vẫn còn nhớ mấy câu: "Hai bàn tay nhỏ ngây thơ/ Tôm không bắt lại bắt vờ tay nhau/ Mười con tôm nhảy lao xao/ Mải vui trăng lặn lúc nào không hay…". Bài thơ viết về đôi bạn nhỏ nam, nữ rủ nhau đi cất vó bắt tôm. Câu "Tôm không bắt lại bắt vờ tay nhau" thật thần tình. Đôi bạn nhỏ mà đã biết "bắt vờ tay nhau" thì tác giả quá lãng mạn, quá đáng yêu! Cái bối cảnh không gian và thời gian hai bạn nhỏ rủ nhau đi cất vó tôm mà tác giả nói đến trước đó đã báo hiệu màu sắc "lãng mạn" này: "Xế trời một mảnh sao Hôm/ Cành tre phơ phất gió nồm hiu hiu".

Trần Mạnh Thường học bình thường. Chính xác hơn là đạt kết quả điểm thi chỉ ở mức trung bình. Hình như anh không mấy chú tâm vào việc tiếp thu kiến thức sách vở mà có phần tập trung làm thơ nhiều hơn. Anh rất ít nói, có phần trầm lặng, sống với nội tâm, ít khi chủ động chuyện trò với mọi người. Nhưng tính tình dễ chịu, nhu mì. Lớp tôi khi ấy có Trúc Thông đã làm thơ, đã có bài in trong tập "Sức mới". Thông và Thường lại ở cùng một phòng tại nơi sơ tán trên huyện Đại Từ (Thái Nguyên) nên hai người trở nên thân thiết, hay trao đổi thơ phú với nhau. Ý Nhi cũng cùng lớp nhưng lúc này chưa có dấu hiệu gì là làm thơ -hay âm thầm làm mà chưa công bố thì chúng tôi không thể biết.

Vèo một cái, 4 năm học đại học kết thúc. Chúng tôi ra trường. Mỗi người bay đi những phương trời khác nhau nên ít gặp. Có người đến hôm nay - sau gần 60 năm - vẫn chưa một lần gặp lại. Thường được phân về làm phóng viên Ban Văn học của Đài Tiếng nói Việt Nam, nơi tôi luôn lui tới Ban Âm nhạc của Đài này nên vẫn thường xuyên gặp gỡ. Về sau, trước khi làm Trưởng Ban Văn nghệ, có thời gian Thường phụ trách buổi "Tiếng Thơ" vẫn mời tôi đến ngâm, đọc thơ nên mối quan hệ còn gắn bó hơn cả hồi cùng học.

Anh rất xuề xòa, đại khái, thậm chí cẩu thả trong ăn mặc và mọi sinh hoạt nhưng trong công việc lại rất nghiêm túc, chỉn chu đến mức khó tính. Tôi nhớ là mỗi lần đến thu thanhh, trong khi các nhân viên bá âm nói đã rất ổn, rất hay rồi nhưng Thường vẫn chưa ưng ý, vẫn đề nghị tôi xử lý lại chỗ này, chỗ nọ. Kể thì cũng phiền hà nhưng phải công nhận anh đã khiến các cộng tác viên phải trổ hết tài năng khi chế độ thù lao của Đài luôn rất khiêm tốn.

Anh cũng là người rất thẳng thắn, không nể nang, né tránh khi làm việc. Với những giọng ngâm nổi tiếng, đàn chị như Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm, Kim Cúc…, anh vẫn sẵn sàng yêu cầu các chị thu lại nhiều lần khi thấy chưa hiệu quả. Có một người ngâm thơ nhưng lại thích làm thơ, đã gửi cho anh cả chục bài muốn được sử dụng. Anh trả lời thẳng sau khi đọc kỹ: "Anh làm thơ dễ dãi quá. Làm vậy thì ai cũng có thể làm. Anh chỉ nên thể hiện thôi chứ không nên làm thơ cho mất thời gian".

tmt-phát-biểu-trong-một-hội-thảo.jpg -0
Nhà thơ Trần Mạnh Thường phát biểu trong một hội thảo.

Khi Trần Mạnh Thường chưa làm Trưởng Ban Văn nghệ, thời gian chưa đến nỗi eo hẹp, tôi vẫn thường xuyên rủ anh đi sáng tác cùng ở các vùng nông thôn và một số cơ quan tại Hà Tây (cũ). Tôi sáng tác bài hát, anh thì làm thơ và viết báo, bút ký nếu có thể. Phần lớn các nơi không có ôtô đưa đón nên chúng tôi phải đạp xe đến. Đến đâu, anh làm việc một cách rất chỉn chu, cứ ghi chép hoài trong khi tôi thì chỉ dung dăng, cưỡi ngựa xem hoa. Đến tối, anh mải miết viết lách bên ngọn đèn điện sợi tóc đỏ quệch, còn tôi lại thích tiếp xúc với các đối tượng ở nơi sở tại.

Tại buổi tiếp xúc cuối cùng với đơn vị trước khi chúng tôi ra về, tôi thì hát ca khúc mới sáng tác, Thường thì đọc thơ. Nhưng anh cứ nhờ tôi đọc hộ. Anh bẽn lẽn, ngượng ngập, rất ngại xuất hiện trước đám đông. Thường chỉ hơn tôi 2 tuổi nhưng đến đâu, cứ bị đám nữ trẻ gọi bằng "bác", trong khi gọi tôi là "anh". Vậy nên về sau cứ mỗi lần tôi rủ đi đâu, anh lại cười và nói: "Ông chớ đưa tôi đến chỗ nào có nhiều nữ trẻ, xinh". Hỏi lý do thì hóa ra, việc xưng hô rất cảm tính của phụ nữ đã khiến anh "mất hứng". Không ngờ con người trầm lặng như anh hóa ra cũng thật là hóm.

Mỗi lần cùng đi như thế, tôi hay nói Thường làm thơ để tôi phổ nhạc. Thơ anh bài nào cũng được viết ra một cách kỹ lưỡng chứ không dễ dãi, đại khái dẫu đề tài khô khan, khó viết ví như nói về một trại chăn nuôi hoặc bò giống hay một xí nghiệp cơ khí… Nhưng nhiều khi tôi chỉ có thể lấy một vài câu rồi thay bằng lời khác dẫu lời của anh nếu để ở thơ là rất hay nhưng không thể đưa vào ca khúc. Khi nhìn bản nhạc, anh cứ nhất quyết đề nghị không đề tên anh ở phần "lời". Tôi nói không cần cẩn thận quá như thế. Vấn đề là chỉ cốt để địa phương người ta thấy sự cộng tác của hai người mà thôi.

Ngày ấy - những năm 80 của thế kỷ trước - các nơi thường trả thù lao cho chúng tôi bằng hiện vật chứ không bằng tiền như bây giờ. Tôi nhớ mãi lần đến sáng tác cho trại nuôi gà ở Hà Tây (cũ). Ra về, họ tặng mỗi người 100 quả trứng. Chúng tôi đi xe đạp. Giữa đường, tôi buộc ẩu nên rơi, trứng vỡ hết. Về đến nhà tôi, Thường nói rẽ vào chơi. Hóa ra là để anh sẻ cho tôi một nửa. Lần khác đến trại lợn giống, người ta tặng mỗi người một chú lợn con. Lúc về, con của tôi bị sổng, chạy vào một rặng cây bên đường. Hai người xuống xe, đuổi bắt mãi không được. Tôi đã nản, quyết định bỏ. Nhưng Trần Mạnh Thường kiên trì lùng bắt bằng được mới thôi. Anh phờ phạc, mồ hôi vã ra như tắm.

Khi chờ đợi người vợ đang đi lao động ở nước ngoài, Trần Mạnh Thường làm một bài thơ thật cảm động, đọc mà mắt tôi cứ cay cay: "Cái cò lặn lội tuyết trắng mênh mông/ Lạnh buốt dòng sông cành mềm gió đập/ Hạt gạo lăn qua biết mấy vòm trời /Lặng lẽ lăn giữa lòng mặn chát…".

Về hưu, anh vẫn thường xuyên được mời kiểm thính nhiều chương trình phát sóng.

Này 5/5/2015, Trần Mạnh Thường qua đời sau một trận đau dữ dội, hưởng thọ 72 tuổi (sinh năm 1944), để lại cho bạn bè, đồng nghiệp nỗi tiếc thương một nhà báo, nhà thơ cần cù, chu đáo, làm việc và sáng tác hết mình. Những đóng góp của anh đáng kể mà thầm lặng và sự ra đi cũng thầm lặng như tính cách anh vậy.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.