Aleksandr Kuprin: Một tài năng văn chương đa dạng

Nhà văn Nga Aleksandr Kuprin là bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ, tài năng của ông được Bunin, Gorky và cả Tolstoy đánh giá cao. Ở nước Nga đương đại, Kuprin không bị lãng quên, ông vẫn là một trong những tác giả cổ điển được đọc nhiều nhất, tác phẩm của ông liên tục được chuyển thể thành phim.

Sinh thời, Kuprin trở nên hết sức nổi tiếng, đặc biệt là sau khi xuất bản truyện vừa "Một vụ đấu súng" (1905). Nhân dịp kỷ niệm 150 ngày sinh của nhà văn (1870-2020), xin trân trọng giới thiệu vài nét về cuộc đời và văn nghiệp của ông.

Aleksandr Kuprin  sinh ngày 26 tháng 8 năm 1870 tại thành phố tỉnh lỵ Narovchat (nay là tỉnh Penza) trong một gia đình viên chức. Bố ông mất sớm vì bệnh dịch tả, khi cậu bé mới được 1 tuổi. Mẹ ông là Lyubov Alekseevna, xuất thân từ dòng họ bá tước Kulanchatov người Tatar. Năm 1874, ông cùng mẹ chuyển đến Moskva và sống tại nhà trẻ mồ côi. 

Nói chung, trong quá trình hình thành nhân cách của Kuprin, người mẹ có vai trò rất lớn, bà vốn là một phụ nữ kiêu hãnh, có cá tính mạnh mẽ, nhạy cảm và tinh tế.

Năm 1876, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bà Lyubov Alekseevna phải gửi con trai đến một trường học dành cho trẻ mồ côi. Lần đầu tiên trong đời, khoác bộ đồng phục học sinh bằng vải thô có viền vạch kiểu lính thủy, cậu bé 7 tuổi cảm thấy rất gò bó.

Nhưng đó mới chỉ là bước đầu. Năm 1880, Kuprin thi đỗ vào Trường quân sự Moskva số 2, hai năm sau được đổi thành Trường võ bị. Và lại mặc đồng phục: "Áo khoác đen, không có thắt lưng, với cầu vai xanh, tám chiếc cúc đồng thẳng hàng và những vạch đỏ ở cổ áo". Kuprin rất khó hòa hợp với kỷ luật nghiêm khắc và chế độ giáo dục trại lính.

Nhà văn Nga Aleksandr Kuprin.
Nhà văn Nga Aleksandr Kuprin.

Mùa thu năm 1888, Kuprin vào học Trường Sĩ quan Aleksandr số ba ở Moskva. Ngay khi còn học ở Trường võ bị, nhà văn tương lại đã bộc lộ một tình yêu văn chương đích thực, sâu sắc, và bắt đầu thử làm thơ. Tại Trường Sĩ quan, lần đầu tiên Kuprin xuất hiện trên báo chí. Sau khi gặp  nhà thơ L. I. Palmin, ông đã đăng truyện ngắn “Buổi ra mắt cuối cùng” (1889) trên tạp chí “Chiếc lá trào phúng Nga” (1889). Nhưng truyện ngắn này không mấy thành công.

Tháng 8 năm 1890, tốt nghiệp Trường Sĩ quan “loại ưu”, thiếu úy Kuprin được điều đến Trung đoàn Bộ binh Dneprovsky số 46, đồn trú tại thị trấn Proskurov, tỉnh Podolsk. Vào thời điểm đó, Kuprin vẫn chưa coi trọng công việc “viết lách” của mình.

Năm 1893, chàng thiếu úy trẻ đã hoàn thành truyện vừa “Trong bóng tối”, các truyện ngắn “Đêm trăng” và “Một cuộc điều tra”. Cuộc sống thường nhật trong trại lính ở trung đoàn Dneprovsky ngày càng trở nên khó chịu đối với Kuprin.

Cuộc sống nặng nề trong quân ngũ khiến ông rất thất vọng, và ở ông xuất hiện tâm trạng muốn trở về cuộc sống đời thường. Nhưng một sự kiện đã  trì hoãn khao khát rời bỏ quân ngũ của Kuprin, đó là mối tình của ông với một cô gái. Chàng thiếu úy quèn với mức lương 48 rúp, không phải là một đám thích hợp của cô. Bố cô gái chỉ đồng ý kết hôn với điều kiện Kuprin thi đỗ Học viện Bộ Tổng tham mưu. Thế là mùa thu năm 1893, ông đến Saint-Petersburg để dự thi.

Đang giữa kỳ thi, theo lệnh của tư lệnh quân khu Kiev, tướng Dragomirov, Kuprin bị triệu hồi về trung đoàn. Nguyên nhân là vụ đụng độ của ông với một cảnh sát trên đường đến Saint-Petersburg. Trở lại trung đoàn, Kuprin làm đơn xin xuất ngũ, được chấp nhận và mùa thu năm 1894, ông chuyển đến sống ở Kiev. Thời gian này, Kuprin công bố nhiều tác phẩm trên các báo chí địa phương ("Văn học Kiev", "Người Kiev", "Volyn"), ông viết truyện ngắn, bút ký, ghi chép. Kết quả của cảnh sống lay lắt nửa nhà văn, nửa phóng viên này là tập bút ký "Các mẫu người của Kiev" (1896) và tập truyện ngắn "Những bức tiểu họa" (1897).

Công việc của một phóng viên tại các tờ báo ở Kiev -  viết các bản tin về pháp luật và an ninh, tiểu phẩm - là trường học viết văn chính của Kuprin. Ông luôn giữ thái độ trân trọng đối với nghề này.

Năm 1896, Kuprin cho ra đời một loạt bút ký về đời sống của những người công nhân, đồng thời chuẩn bị sáng tác tác phẩm lớn - truyện vừa đầu tiên "Moloch". Tài năng sáng tạo của Kuprin nở rộ trong thời kỳ giáp ranh giữa hai thế kỷ, khi ông sáng tác những tác phẩm quan trọng nhất của mình. Sau "Moloch", xuất hiện những tác phẩm đưa nhà văn lên vị trí hàng đầu của văn học Nga. "Chàng chuẩn úy” (1897), "Olesya" (1898), "Trong rạp xiếc" (1901), "Những tên trộm ngựa" (1903), "Viên đạn trắng" (1903) và truyện vừa “Một vụ đấu súng” (1905).

Để lại sau lưng những năm tháng phiêu bạt, những công việc kỳ dị, cuộc sống bấp bênh, năm 1901, Kuprin đến Saint-Petersburg. Ở thủ đô, trước mắt nhà văn mở rộng cánh cửa của những tạp chí “dày” nổi tiếng nhất thời bấy giờ - “Tài nguyên Nga” và “Bình an của Chúa”. 

Trước đó, năm 1897, Kuprin đã gặp nhà văn nổi tiếng I. Bunin, một thời gian sau - A. Chekhov, và vào tháng 11 năm 1902 - M. Gorky, người từ lâu đã để ý tới nhà văn trẻ. Năm 1903, nhà xuất bản dân chủ “Tri thức” do M. Gorky phụ trách đã xuất bản tập truyện ngắn đầu tay của Kuprin, được giới phê bình đón nhận tích cực.

Trong giới trí thức Petersburg, Kuprin đặc biệt gần gũi với các nhà lãnh đạo của tạp chí "Bình an của Chúa" – tổng biên tập, nhà nghiên cứu văn học F.D. Batyushkov, nhà phê bình văn học A.I. Bogdanovich, và chủ xuất bản A.A. Davydova, người đánh giá cao tài năng của Kuprin. 

Năm 1902, nhà văn kết hôn với con gái của Davydova, Maria Karlovna. Một thời gian, ông trở thành biên tập viên của tạp chí "Bình an của Chúa", đồng thời công bố một số tác phẩm của mình ở đây: "Trong rạp xiếc", "Đầm lầy". Ngay trước khi xảy ra cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất (1905), tác phẩm lớn nhất của nhà văn, truyện vừa "Một vụ đấu súng”, được ấn hành.

Trong những năm đầu của thế kỷ XX, tài năng của Kuprin đã đạt đến đỉnh cao. Năm 1909, cùng với I. A. Bunin, nhà văn được trao giải thưởng Pushkin của Viện hàn lâm Petersburg với ba tập văn xuôi. Năm 1912, nhà xuất bản của L.F. Marks đã xuất bản tuyển tập tác phẩm của ông trong phần phụ lục của tạp chí nổi tiếng "Nina".

Sau thất bại của cuộc cách mạng dân chủ Nga lần thứ nhất, sự quan tâm của ông đối với đời sống chính trị của đất nước giảm đi rõ rệt. Không có sự gần gũi trước đây với M. Gorky. Kuprin công bố các tác phẩm mới của mình không phải tại nhà xuất bản "Tri thức" của Gorky, mà là ở các almanac "thời thượng". Nếu nói về sự nổi tiếng của Kuprin với tư cách một nhà văn, thì trong những năm này, nó vẫn tiếp tục phát triển và đạt đỉnh cao.

Công việc sáng tác văn học của Kuprin cũng bị ảnh hưởng bởi cuộc sống khó khăn và những lo lắng về gia đình. Sau chuyến đi Phần Lan năm 1907, ông tái hôn với Elizaveta Moritsovna Geynrikh, cháu gái của nhà văn D.N.Mamin-Sibiryak. Đang trên đỉnh cao danh vọng, nhà văn buộc phải quay trở lại với nhịp điệu gấp gáp của nghề báo như cái thời bất ổn ở Kiev trước đây. Trong những điều kiện như vậy, ông đã sáng tác truyện vừa "Cái hố" và tác phẩm nổi tiếng “Chiếc vòng thạch lựu”.

Đầu chiến tranh thế giới thứ nhất,  Kuprin lại nhập ngũ, nhưng nhanh chóng xuất ngũ vì lý do sức khỏe. Thời gian này, Kuprin đã viết một số bài báo ca ngợi tinh thần yêu nước. Khi cuộc Cách mạng tháng Hai xảy ra, Kuprin đang ở Helsingfors, thủ đô Phần Lan. Ngay lập tức ông trở về Petrograd và cùng với nhà phê bình P. Pilsky thành lập tờ báo “Nước Nga tự do”. Trong các tác phẩm văn học của ông thời kỳ này (truyện ngắn "Những kẻ đào tẩu dũng cảm", "Sashka và Yashka", "Con sâu", "Ngôi sao của Solomon"), chúng ta không tìm thấy âm hưởng của những sự kiện sôi sục mà đất nước đã trải qua. Mặc dù tán thành cuộc Cách mạng tháng Mười, nhưng Kuprin lại cộng tác với các tờ báo tư sản. Kuprin phê phán các kế hoạch phát triển nước Nga của Lenin. Một hoàn cảnh ngẫu nhiên đã khiến ông rời bỏ đất nước. Mùa hè năm 1920, ông đến Paris. Thời gian ở nước ngoài, Kuprin sáng tác không nhiều.

Mãi đến năm 1927, tuyển tập "Các truyện vừa và truyện ngắn mới" của Kuprin được xuất bản. Sau tuyển tập này xuất hiện các cuốn sách "Mái vòm nhà thờ Thánh Isaac Dalmatia" (1928) và "Elan" (1929). Các truyện ngắn đăng trên báo “Phục hưng” năm 1929-1933 được đưa vào tuyển tập “Bánh xe thời gian” (1930) và “Janeta” (1932-1933). Từ năm 1928, Kuprin công bố các chương của tiểu thuyết "Thiếu sinh quân", được xuất bản thành sách vào năm 1933.

Ở Paris, Kuprin rất nhớ tổ quốc, nhà văn quyết định dứt khoát trở về nước Nga. Và ngày 31/5/1937, Moskva chào đón nhà văn. Tuy nhiên, đây hoàn toàn không phải là Kuprin như những người đương thời nhớ tới. Vốn mạnh mẽ, cường tráng lúc ra đi, trở về, ông là một người ốm yếu, bơ vơ. Tuy nhiên, Kuprin hy vọng sẽ viết về nước Nga mới. Cuối tháng 12 năm 1937, nhà văn chuyển đến sống ở Leningrad trong sự quan tâm, chăm sóc của mọi người.

Căn bệnh hiểm nghèo đã không cho phép nhà văn tiếp tục công việc sáng tác. Ngày 25 tháng 8 năm 1938, một ngày trước sinh nhật lần thứ 68 của mình,  Aleksandr Kuprin đã từ giã cõi đời. Ông được an táng tại nghĩa trang Volkovo ở Saint-Petersburg, bên cạnh mộ của nhà văn Ivan Turgenev.

Trần Hậu (dịch)

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.