Miếng đỉnh chung mới quệt đã khem

Khi người phụ nữ chết chồng, “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương bảo:

Ai về nhắn nhủ đàn em nhé

Xấu máu thời khem miếng đỉnh chung

Có lẽ, nhiều người đã dừng lại từ "khem" và… mày mò tìm hiểu cho rõ nghĩa. Không những thế, có những câu thơ của bà xưa nay ta đã thuộc làu làu nhưng rồi chắc gì đã hiểu đúng ý của tác giả? Bài thơ “Mời trầu” là một thí dụ, có bản như sau:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,

Này của Xuân Hương mới quệt rồi.

Có phải duyên nhau thì thắm lại,

Đừng xanh như lá bạc như vôi.

Đọc kỹ lại lần nữa, ta vẫn không phát hiện ra điều gì khiến phải ngập ngừng, suy nghĩ thêm.

Nhà thơ Mai Văn Hoan đã phát hiện ra một chữ/ một từ, chỉ một từ, phải thay một từ thì mới phản ánh được bản lĩnh của “bà chúa thơ Nôm”. Ông chỉ cho bạn đọc thấy từ "mới/ mới quệt rồi" cực kỳ vô vị. Tại sao? Ông lập luận: "Cách mời trầu của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương không giống với cách mời trầu thông thường. Bà không hề có ý muốn tạo sự hấp dẫn với người được mời, rằng là miếng trầu của mình "vừa mới quệt", còn "tươi roi rói", rất "sốt dẻo". Nếu mời để hấp dẫn khách như thế, bà phải nói lá trầu của bà là lá trầu ngon, quả cau của bà rất đẹp. Đằng này bà lại "khai báo" với khách một cách hết sức thành thật: "Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi".

Miếng đỉnh chung mới quệt đã khiêm -0
Phụ nữ ngày xưa têm trầu (ảnh tư liệu).

"Trầu hôi" là loại trầu xoàng ít ai dùng. Quả cau "nho nhỏ" cũng ít ai lựa chọn để tiếp khách quý. Nên biết lá trầu, quả cau ở đây chính là "lạch Đào nguyên" và "gò Bồng đảo" trong bài "Thiếu nữ ngủ ngày" nhưng đã "xuống cấp". Trầu và cau như thế, dù có "mới quệt" đi chăng nữa cũng khó lòng hấp dẫn khách mời. Nếu cho rằng đấy là cách nói nhún nhường, khiêm tốn, tự hạ mình (như nàng Kiều nói với Kim Trọng "Đài gương soi thấu dấu bèo cho chăng?"), thì việc khoe "mới quệt" xem ra cũng không phù hợp chút nào".

Xét ra cũng có lý đấy nhỉ? Vậy, không phải "mới quệt rồi", vậy phải là từ gì? Nhà thơ Mai Văn Hoan chọn lấy dị bản "Này của Xuân Hương đã quệt rồi". Khi nhà thơ Mai Văn Hoan chọn từ "mới" qua "đã" rõ ràng là hai trạng thái hoàn toàn khác nhau. Ông phân tích: "Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương dám nói cái điều mà những người đàn bà rơi vào hoàn cảnh như bà vẫn muốn che giấu, không dám nói, rằng là: "Này của Xuân Hương đã quệt rồi!". Đã quệt không xác định rõ thời gian như mới quệt. Chữ "quệt" mà “bà chúa thơ Nôm” dùng ở đây là cách nói bóng gió (hóm hỉnh, tinh nghịch, thanh mà tục) chứ không chỉ đơn thuần là quệt trầu. Cái cung cách mời trầu cho ta biết bà đã hơi đứng tuổi, không như những cô gái mới lớn. Bà muốn nói với "người ấy" rằng: Bà là người đàn bà từng trải, không còn thanh tân nữa…

Đó là cách mời trầu của một phụ nữ bất hạnh, chưa được tận hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Nữ thi sĩ vẫn còn khao khát được yêu, được chung sống với người mình yêu. Thế nên bà mới nói: "Có phải duyên nhau thì thắm lại". Bà muốn nhắn gửi với "người ấy" rằng: Cái quan trọng nhất là chúng mình thực sự yêu thương nhau! Đã phải duyên nhau rồi thì bất chấp tất cả, bỏ qua tất cả. Tình yêu sẽ làm "thắm lại" tất cả. "Thắm lại" có rất nhiều tầng nghĩa: Cùng nối lại tình cảm, cùng nhau làm lại cuộc đời, cùng hòa trộn vào nhau như kiểu ăn trầu...

 Nữ thi sĩ không chỉ nhắn với người mình yêu mà nhắn với tất cả mọi người của mọi thời đại: "Đừng xanh như lá, bạc như vôi"! Yêu nhau mà không gắn bó với nhau, hòa trộn vào nhau thì có khác gì trầu, cau, vôi bị tách ra. Lá trầu cứ xanh, vôi kia vẫn giữ nguyên màu trắng… "Thắm lại" rất phù hợp với "quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi", rất phù hợp với "đã quệt rồi". Đó chính là sự màu nhiệm của tình yêu. Tình yêu có thể làm thay đổi tất cả! Xanh như lá, bạc như vôi nhưng nếu biết hòa trộn vào nhau bằng một tình yêu đích thực thì vẫn "thắm lại" như thường. Nếu miếng trầu của bà vừa "mới quệt", "còn tươi rói" cần gì bà phải khẩn nài với "người ấy": "Có phải duyên nhau thì thắm lại" nữa. Với bà, điều quan trọng nhất là có yêu nhau thật lòng hay không. Nói như dân gian "yêu nhau cau sáu bửa ba", miếng trầu hôi cũng có thể biến thành miếng trầu thơm như thường…

Tôi cho rằng, cách phân tích của nhà thơ Mai Văn Hoan hợp lý, thuyết phục, đã trả lại từ "đã" hết sức độc đáo của “bà chúa thơ Nôm”, lâu nay đã bị từ "mới" lấn lướt. Vậy, chỉ một từ mà ý nghĩa bài thơ khác hẳn. Vậy, cũng như khi ta liên tưởng đến từ "khem" trong câu thơ "Xấu máu thời khem miếng đỉnh chung", không thể "giỡn chơi", cần xem xét nghiêm túc để tìm hiểu bà ngụ ý điều gì?

Mà, khem nghĩa là gì nhỉ?

Năm 1939, nhà văn hóa Phan Khôi có viết tiểu thuyết “Trở vỏ lửa ra”, ngay nhan đề của nó, nhiều người ở miền Bắc thời đó đã không hiểu. Muốn hiểu câu này, ta cần liên hệ đến câu tục ngữ phổ biến ở Trung, Nam Bộ "Con gái trở vỏ lửa ra". Về tục lệ này, ta hãy nghe ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích: "Cây cắm ra ngoài cho biết trong nhà có việc kiêng cử: ấy là một cây dài nhỏ, chẻ ra một đầu, giắt một đoạn củi vắn đã có chụm rồi, cắm ra trước nhà cho biết là nhà có người nằm bếp, đẻ con trai thì trở đầu cháy vào nhà, đẻ con gái thì trở đầu cháy lộn ra". Việc làm này, gọi tắt bằng từ "khem".

Giải thích trên cho biết "cây củi vắn đã có chụm", ta hiểu là nó đã từng chụm lửa, chứ không phải cây củi đó đang phừng phựt lửa cháy. Cây củi đó, thú vị thay, người Việt mình gọi là "vỏ lửa", thế nhưng tréo ngoe thay, khi có người trên tay cầm cây lửa đang cháy, hớt hơ hớt hải chạy lộn đầu này, ngược đầu kia nhắm báo động cho bà con biết giặc tràn vào làng, thì lại gọi "chạy vỏ lửa".

Tóm lại, trong ngữ cảnh cụ thể, "vỏ lửa" có liên quan tới "khem" nhằm chỉ lúc người phụ nữ sinh nở. Thế nhưng, không những thế, với từ khem này, ta biết ngày xưa mỗi nhà của người Việt đều có khoảng thời gian đóng cửa ngõ, không cho ai lui tới nữa. Đó là từ lúc làm lễ rước ông bà vào chiều 30 Tết tháng Chạp đến lễ đón Giao thừa, thậm chí đến rạng ngày mồng Một, người ta cũng gọi là khem/ vào khem. 

Khi người phụ nữ "nằm bếp", còn có các từ tương tự như nằm lửa/ nằm phây/ nằm nơi… Nếu thay thế bằng từ khác, ta còn có cách nói khác như nằm cữ, giường cữ, ở cữ...  Tục ngữ có câu "Ăn khem nằm cữ" là vậy. Người Việt ngày xưa có câu cửa miệng "Con trai bảy ngày một cữ, con gái chín ngày một cữ". “Việt Nam tự điển” (1970) của Lê Văn Đức giải thích: "Thời kỳ ở cữ (sinh đẻ) bảy ngày nếu sinh con trai, chín ngày nếu sinh con gái, kiêng người tới thăm bằng cách treo trước cửa một lá môn, một cục than và bảy hay chín đồng tiền".

Trong khi đó, hầu hết các thông tin trên mạng hiện nay đều cho rằng, đó là: "Lễ cúng mụ đầy cữ cho bé gái khi bé được 9 ngày tuổi và bé trai được 7 ngày tuổi. Ý nghĩa của buổi lễ để cảm ơn các bà Chúa Mụ. Đã khai tâm, khai tính, khai lời, khai khẩu đối với một đứa trẻ sơ sinh". Rõ ràng, đã có sự hiểu khác nhau về câu cửa miệng đã có từ xưa vừa nêu trên. Thiết nghĩ, điều này hết sức bình thường mà cũng hợp lý nữa, vì quan niệm về "khem" đã khác trước.

Mà, thật ngộ, khem cũng có nghĩa là kiêng, bởi vậy ta có tiếng đôi kiêng khem. Nhưng kiêng còn "choàng vai bá cổ" với dăm từ khác để trở thành kiêng nể, kiêng oai, kiêng sợ, kiêng kỵ, kiêng dè, kiêng mặt... Kiêng là né tránh, không phạm đến những sự vật/ sự việc gì đó, tránh xa cho lành. Ca dao miền Nam có câu:

Tới đây xứ sở lạ lùng

Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kiêng

Dù kiêng và khem đồng nghĩa nhưng câu này không thể hoán đổi cho nhau cũng như không thể đổi sang cữ - dù kiêng cũng có nghĩa là cữ. Thí dụ, một người bảo: "Tớ cữ/ kiêng món mộc tồn", ai cũng hiểu người đó hễ thấy món "cờ tây" là "né đạn" ngay, dứt khoát không đụng đũa. Trong ngữ cảnh nào đó, thay vì dùng các từ trên, ta còn có từ tương tự là kỵ/ kị, có từ đôi kiêng kỵ.

Trở lại với câu "Xấu máu thời khem miếng đỉnh chung" trong bài thơ "Dỗ người đàn bà khóc chồng chết", các sách bình giảng về thơ Hồ Xuân Hương đều chú thích: "Khem: kiêng"; "đỉnh chung" thì đỉnh là cái vạc, chung là cái chuông "chỉ gia đình quyền thế cực giàu có, nấu cơn bằng vạc, giờ cơm phải đánh chuông" - theo “Hán Việt tân từ điển” (1975) của Nguyễn Quốc Hùng. Ta hiểu, bà bảo đã "xấu máu" (chồng chết) thì nên kiêng, chớ ham hố "miếng đỉnh chung" (nơi quyền quý sang trọng).

Đơn giản thế ư?

Không.

Khem trong câu thơ này vừa là kiêng nhưng lại còn liên quan đến chuyện "nằm bếp/ ở cữ" nữa, do đó, "miếng đỉnh chung" không thể chỉ hiểu… "miếng đỉnh chung" như từ điển giải thích, mà, nó phải hiểu qua nghĩa khác. Chỉ có thể hiểu bằng sự liên tưởng qua thơ của chính bà, rằng, "miếng đỉnh chung" ấy chính là vật dụng, tài sản quý báu của đấng mày râu:

Đầu đội mũ da loe chớp đỏ

Lưng đeo bị đạn rủ thao đen

dùng cho mục đích "đóng cọc": “Quân tử có yêu thì đóng cọc", "Quỳ hai gối xuống gật xom xom"... Một khi đã "xấu máu" vì rằng đang còn "Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng" thì phải khem theo nghĩa này.

Sự đắc địa của từ "xấu máu" còn do bà vận dụng tài tình câu tục ngữ "Xấu máu đòi ăn của độc". Về nghĩa của nó, “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân giải thích: "Xấu máu là tạng yếu. Giễu những ai mong ước những điều không hợp với khả năng của mình"; “Từ điển tục ngữ Việt” của Nguyễn Đức Dương cũng cho rằng: "Máu đã xấu thì đừng đòi ăn món của độc (dễ bị mắc họa). Hay dùng để khuyên những ai tạng yếu hãy tránh xa các món của độc cho khỏi mắc họa". Xét ra, về nghĩa bóng, Nguyễn Lân giải thích "chuẩn" hơn, tương tự, còn có câu như "Đũa mốc chòi mâm son"… Đã hiểu rõ nghĩa từ "của độc", ta mới rõ cơn cớ tại làm sao bà Hồ Xuân Hương lại dùng từ "khem".

Tương tự, từ "quệt" trong câu thơ "Này của Xuân Hương" cũng thế, không thể hiểu đơn giản: "Bôi vào, phết vào: Quệt vôi vào lá trầu" - theo “Việt Nam tự điển” (1931), hiểu thế còn gì là Hồ Xuân Hương? Quệt trong ngữ cảnh này là chỉ động tác mà người đàn bà đã từng được/ từng bị "đẽo đá": "Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc", đã trải qua tình huống: "Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không"… Vì thế, mời trầu ở đây chỉ có thể là "Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi" thể hiện sự nhất quán nội tại của bài thơ.

 Nếu không hiểu như thế, làm sao ta cảm nhận hết cách sử dụng tiếng Việt thuộc hạng thượng thừa đã tạo nên bút lực "vô tiền khoáng hậu" của một bậc nữ lưu được đời sau tôn vinh “bà chúa thơ Nôm”?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?