Chí chóe dậy mẩy

Năm 1936, nghệ sĩ lừng danh Charlie Chaplin (1898 - 1977) đến Hà Nội, lập tức trở thành “sự kiện báo chí” thời ấy. Hầu hết các báo đều đồng loạt đưa tin với tất cả những gì ưu ái nhất.

Trên báo Phong Hóa (số 186 ra ngày 8/5/1936), nhà thơ Tú Mỡ đã kịp thời có bài thơ khắc họa “chân dung nhân vật” và trở thành nhà thơ Việt Nam đầu tiên viết về Chalot: “Chẳng mấy khi Vua hề Sạc-lố/ Đất Lạc Hồng quá bộ sang chơi/ Tú tôi vui vẻ dâng lời/ Tung hô vạn tuế vui cười thế gian”.

Khi sang nước Nam ta, có những điều gì khiến Vua hề Sạc-lố ngạc nhiên đến mức… kinh ngạc? Nhiều. Rất nhiều. Chỉ xin trích lấy mẩu đối thoại giữa ông với nhà văn Thạch Lam in trên Phong hóa (số 185 ra ngày 1/5/1936). Khi trò chuyện với tác giả “Gió đầu mùa”, ông hỏi:

- Tôi xin lỗi, tôi hỏi ông một câu. Từ khi sang đây, tôi hằng thấy ở các vệ hè thành phố, những ngày nắng từng túm tụm đàn bà, con gái ngồi. Một người xõa tóc, còn một người bới tóc và thỉnh thoảng họ đưa tay lên mồm. Họ làm gì thế thưa ông?

- Họ... họ... ngồi phơi nắng!

- Phải, cái đó tôi biết rồi. Ở bên Mỹ chúng tôi cũng ngồi phơi nắng luôn. Nhưng còn cái việc khác kia?

- À... ấy là họ bắt chấy cho nhau.

- Bắt chấy! Trời ơi họ lại ăn chấy nữa à?

- Ăn rồi nó cũng quen đi.

Chí chóe dậy mẩy -0

Hiểu ra làm sao về câu giải thích của nhà văn Thạch Lam? Chỉ là cách nói giả lả cho “qua truông” đó thôi. Có điều khi người miền Bắc nói “chấy”, trong Nam lại dùng từ “chí” như câu cửa miệng “Đầu ai chí nấy”. Ủa, hóa ra khi nói: “Có chí thì nên”, vậy trên đầu cần có chí? Đùa dai nhỉ? Chí là từ Hán-Việt đồng âm nhằm chỉ ý hướng, ý muốn to lớn mạnh mẽ, lòng dạ quyết tâm phải làm nỗ lực hết sức để đạt đến điều nào đó, thí dụ “Có chí làm quan, có gan làm giàu”… Cái chí ấy thật tức cười trong câu “Độ này chí quyết buôn to/ Buôn trấu rấm bếp, buôn tro trồng hành” (Ca dao) là cách nói tự trào hoặc mỉa mai ai đó đã quyết chí vào những việc ất ơ, chẳng đâu vào đâu… Ông Tú Xương có câu thơ phê phán những kẻ “trưởng giả học làm sang”:

Chí cha chí chát khua giầy dép

Đen thủi đen thui cũng lượt là

“Chí cha chí chát” lại là mức độ cao hơn của “chí chát” nhằm chỉ âm thanh đanh của vật cứng liên tiếp va đập vào nhau phát ra tiếng nhỏ tiếng to, nghe chói cả tai. Làng văn làng báo nước ta có Nguyễn Hải Chí, khi vẽ tranh châm biếm ông ký bút danh Chóe. Sở dĩ vậy, bởi ta có từ “chí chóe” - là âm thanh lộn xộn, nhỏ to đan xen như ai đó bảo: “Mấy đứa trẻ cãi nhau chí chóe”. Thật thú vị, ai cũng biết con chí nhỏ xíu nhưng về kích cỡ của nó, người Việt mình phân biệt rất hay: con chí to gọi chí đực, chí mới nở gọi chí mén. “Mén” có nghĩa là nhỏ lắm hoặc mới sinh mới nở.

Một khi nói đến chí/ chấy ắt ta lại nhớ đến… rận. Nhớ là phải thôi. Ai lại không nhớ đến câu “Đầu chấy mẩy rận”. Đầu tóc bù xù như ổ quạ, không tắm gội sạch sẽ biết đâu có chấy đấy chứ? Thế “mẩy” là gì mà lại có rận? Để giải thích, cách tốt nhất là ta lại nhớ đến câu “Đau mình đau mẩy”. Mình là một bộ phận trong thể con người như ta thường nói đầu, mình và tay chân. Mình còn gọi “mình mẩy”, đây là từ đôi mà cả hai từ cùng có nghĩa là “mình”. “Trung niên thi sĩ” Bùi Giáng có câu thơ ngẫm ra thị vị lắm đây:

Tấm quần em rách đường tơ

Cỏ trong mình mẩy bâng quơ mọc nhiều

Ủa, cỏ lại sao mọc trong mình mẩy? Hỏi cong ắt… cười. Do chỉ mới đoán/ phỏng đoán có thể là vậy nhưng chắc gì, vậy, Bùi Giáng bèn hỏi cho chắc ăn:

Bây giờ em đứng nơi đâu

Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao?

Nói theo giọng Quảng Nam: “Hủa chi lọa rứa trời?”. Thế thì, xin hỏi nghiêm túc, nếu Sạc-lô nhìn thấy người ta bắt chấy trên tóc rồi đưa vào miệng cắn rôm rốp thì có ai… cắn rận không? Có đấy. Đấy là nhân vật ông lang rận trong truyện ngắn của nhà văn Nam Cao, lúc cởi áo: “Thỉnh thoảng gặp những lúc không có việc gì làm, anh ta ra ngồi đầu hè cởi ra, nhặt rận đưa lên miệng nhấm kêu lép bép. Còn gì tởm cho bằng cái cảnh một ông lang trần trùng trục ngồi bắt rận trong một nhà sạch sẽ như nhà bà cựu…”. Qua miêu tả của cha đẻ Chí Phèo, ông lang rận đích thị “Đầu chấy mẩy rận”.

Mẩy còn hiểu theo nghĩa khác nữa, thí dụ, Sau khi thu hoạch mùa màng, vốc trên tay nhúm thóc, một người bảo: “Năm nay mưa thuận gió hòa, hạt thóc mẩy quá”. Mẩy là to đầy, to chắc, nở nang. Trái ngược với “mẩy/ hạt mẩy” là “lép/ hạt lép”. Nếu dùng chỉ con cua béo mập, chắc thịt, người ta cũng gọi cua mẩy. Loại cua chắc thịt này, kinh nghiệm cho biết chỉ có thể là cua gạch, vì thế mới có câu “Chắc như cua gạch”; tuy nhiên từ trái nghĩa không phải “lép” mà phải là “óp/ cua óp”. “Từ điển Việt-Bồ-La” (1651) cho biết cua óp còn gọi “Cua rỗng và cũng nói như vật với những vật khác, bị giảm bớt theo tuần trăng”. Mức độ cao hơn óp là óp xọp.

Từ óp nảy, “Việt Nam tự điển” (1931) lại ghi “ốp”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) ghi nhận “óp” lẫn “ốp” dù cũng hiểu như nghĩa vừa nêu trên. Mà, khi nói đến “ốp” lại còn có nghĩa tương tự như “áp”, thí dụ, một người bảo: “Khi xây tường, tôi còn ốp thêm gạch tráng men”, là phụ vào, áp vào; hoặc ai kia cho biết: “Lúc bão lụt, vừa nghe tiếng trống báo động, lý trưởng liền ốp phu phen đi đắp đê”, là đốc thúc, thúc giục; hoặc ai kia có lời bình: “Thời buổi này đã bia bọt tè le mà còn chạy xe, công an ốp ngay đấy” là bắt, giữ lại.

Trong nghi lễ hầu đồng của Đạo Mẫu Việt Nam có cụm từ quen thuộc “Thánh ốp đồng”. Ta hiểu thế nào với từ “ốp” trong ngữ cảnh này? Thiết tưởng khi khảo sát “hồn vía” của các từ trong tiếng Việt, qua đó, cũng là lúc chúng ta cần tìm hiểu nét văn hóa đã thể hiện trong các từ đó, có như thế, mới thấy sức sống của nó đã vận động, sử dụng ngay trong đời sống với tất cả biểu cảm, tình cảm, ý nghĩa… chứ nào phải chỉ là cái vỏ của âm thanh.

Có thể hiểu nôm na, “thánh” là thần linh. Về từ “đồng”, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho biết: “Đồng là từ gốc Hán chỉ người con trai dưới mười lăm tuổi với tư chất trong trắng, ngây thơ,  để thần linh có thể nhập vào. Dần dần về sau người ta dùng để chỉ cô gái thay thế các thiếu niên”.

Trong tập sách “Đạo Mẫu Việt Nam” (NXB Tôn Giáo-2009), ở đoạn này, dù nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh không sử dụng từ “ốp” nhưng lại giải thích cho câu “Thánh ốp đồng”. Rằng, trong nghi lễ lên đồng: “Sau khi làm lễ và xin phép mọi người được làm lễ nhập đồng, ông Đồng hay bà Đồng trùm khăn đỏ lên đầu để thực hiện nghi thức Thánh giáng, một nghi thức quan trọng bậc nhất trong hầu đồng. Bà Đồng hay ông Đồng trùm khăn phủ diện, hai tay chắp dâng ba nén hương, đầu và thân lắc lư cho tới khi nào Thánh giáng (nhập) thì buông các nén hương, rùng mình, tay báo hiệu Thánh thuộc hàng thứ bậc nào. Lúc đó cung văn vừa tấu nhạc và xướng văn chầu phù hợp với vị Thánh vừa giáng” (tr.86).

Rõ ràng, “ốp” trong ngữ cảnh “Thánh ốp đồng” còn có nghĩa là “nhập vào”. Bây giờ, hầu như không mấy ai nhớ đến nghĩa của cách nói như “làm ốp chát” - là làm oan uổng, làm lấy lệ cho có, không bài bản;  “nói ốp chát” là nói như phang vào mặt người ta, không kiêng dè, không “uốn lưỡi bảy lần trước trước nói”, nói bằng thái độ của kẻ ngang ngược “chặt tre không dè đầu mắt”, nói tưới xượi khiến người nghe vuốt mặt không kịp…

Trở lại với tới từ “mẩy”, ngày xưa trong Nam có từ “dậy mẩy” - dấu vết này, trong di cảo “Dở Mắm” (NXB Trẻ- 2015), học giả Vương Hồng Sển vẫn còn sử dụng. Cụ kể về thời học trường Chasseloup (nay là trường Lê Quý Đôn) những năm 1919 - 1923: “Chúng tôi, học xóm bản xứ (quartier indigène), có một cắc, đưa cho anh Hai Huế cu-li, đến tối anh đem lên lầu sẵn cho mình một bầu (broc) nước trà nóng và một giề cơm cháy to bằng chiếc nón bài thơ, trường nấu cơm bằng chảo đun, cơm khê cơm khét dán sát đáy chảo ấy, dư nhiều bán cho heo ăn, ấy cơm cháy ấy, đối với chúng tôi, tuổi mười bảy mười tám đang thời dậy mẩy ấy, nó ngon kỳ ngon cục” (tr.44).

Từ “dậy mẩy” này, theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895): “Nở da, nở thịt, dậy vú, nói về con gái 16 - 17 tuổi mới lớn lên”; tất nhiên cũng dùng cho cả con trai. Nay, còn có cách nói khác là “nhổ giò”, “bể tiếng” “dậy thì”... Ở lứa tuổi “dậy mẩy” ấy, người ta bảo “Tuổi mười bảy bẻ gẫy sừng trâu”.

Nếu “mẩy” không có dấu “ớ” (^) để trở thành “mảy” thì sao nhỉ? Chẳng sao cả. Vẫn có nghĩa, tức nhìn rộng ra, vốn từ của người Việt giàu đẹp, trong sáng và phong phú, đa dạng thừa sức diễn đạt chu toàn mọi sự vật/ sự việc đâu ra đó. Thí dụ, nhiều người đã đọc tác phẩm “Chinh phụ ngâm”, có lẽ còn nhớ đến tâm sự của người đàn bà lúc vò võ năm canh ngóng đợi, trông ngóng người chồng nơi vùng chiến địa. Rồi nghĩ thân phận mình còn thua cả loài vật, cỏ cây bởi chim én lứa đôi, chim chích liền cánh, liễu liền cành, sen nở nhụy đôi hoa, tất cả “Sánh đua trọn kiếp, mảy rời phút giây”.

Vậy, mảy nghĩa là sao?

“Từ điển Việt-Bồ-La” (1651) giải thích: “Mảy, một mảy, một chút, một ít, một chút, chẳng có một mảy: Chẳng có một chút gì, một cái cũng chẳng có”. Truyện thơ “Lâm tuyền kỳ ngộ” có câu: “Mảy chút trần ai chi khấng lụy/ Thanh nhàn còn đợi thú lâm tuyền” là hiểu theo nghĩa này. Khấng/ chi khấng trong câu trên là không ưng, không chịu; còn có cách nói tương tự là “khứng”, trong “Quốc âm thi tập”, Nguyễn Trãi đã sử dụng: “Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ/ Trời ban tối ước về đâu”… “Mảy” còn xuất hiện trong tư thế ngồi/ ngồi tréo mảy là ngồi gác đùi nọ qua đùi kia, còn gọi ngồi vắt mảy.

Ngoài từ “mảy”, ta còn có “mảy may” cùng nghĩa. Một khi nhắc đến từ “mảy may” riêng tôi lại dội về cảm xúc mãnh liệt, khi nhớ đến bài thơ “Hữu không” của thiền sư Đạo Hạnh (?-1117). Bài thơ này nguyên tác chữ Hán: “Tác hữu sa trần hữu/ Vi không nhất thiết không/ Hữu không như thủy nguyệt/  Vật trước hữu không không”. Thơ văn Lý Trần (NXB Khoa học - Xã hội - 1977) của Viện Văn học dịch nghĩa như sau: “Bảo là có thì từ hạt cát, mảy bụi đều có/ Cho là không thì hết thảy đều không/  Có với không như ánh trăng dưới nước/ Đừng có bám vào cái có, và cũng đừng cho cái không là không”. Tương truyền nhà sư Huyền Quang (1254-1334) đã dịch:

Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Vừng trăng văng vặt in sông

Chắc chi có có, không không mơ màng

Với từ “mảy may/ Có thì có tự mảy may”, không một ai có thể thay thế bằng từ khác hay hơn, chính xác hơn và khái quát hơn. Vì rằng, do am tường tiếng Việt, giỏi tiếng Việt nên người dịch dùng từ “mảy may” dành chỉ sự vật nhỏ xíu, rất nhỏ là rõ ràng đã đạt đến cái hay “bá cháy”, cực đỉnh vì thế nó đã tồn tại như một bài thơ độc lập và hoàn chỉnh.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?