“Anh đi ghe cá trảng lườn”

Anh đi ghe cá trảng lườn

Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

Với từ vườn, hẳn nhiều người nhớ đến câu nói “Cây nhà lá vườn”, theo ông Huình Tịnh Paulus Của ấy là “Tiếng nài chủ vườn cho thêm”, chi tiết này thú vị ở chỗ là người miền Nam xưa có lối ăn nói thanh nhã, kín đáo khi xin thêm vật gì mà chủ nhà có sẵn do tự làm ra, không phải mua từ bên ngoài. Nếu chọn lấy câu thơ có thể khái quát được hình ảnh nhà cửa ở thôn quê ngày trước, tôi xin chọn lấy:

Ao sâu nước cả khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.

Hầu như nhà vườn nào ở nông thôn Việt Nam cũng có ao, vườn rau, cây xanh, nuôi gia cầm. Khi nhà thơ Nguyễn Trãi viết:

Dễ hay ruột bể sâu cạn,

Khôn biết lòng người vắn dài.

Dễ trái nghĩa với khó, “dễ hay” lại là không dễ hay/ không dễ biết; khôn trong trường hợp này cũng như “khôn chài cá” ở câu thơ của Nguyễn Khuyến lại là “khó có thể”. Ấy thế, dù gà khó đuổi nhất là rào thưa nhưng ở đời lại có kẻ “Ăn cơm nhà đuổi gà hàng xóm”, xét ra tương tự với câu “Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng/ Ăn cơm nhà vác ngà voi” - ý nói tốn công tốn sức, nai lưng è cổ gánh việc thiên hạ mà chẳng được trả công. Công ấy đích thị công cốc.

Thế nhưng tại sao lại gọi “công cốc”?

“Anh đi ghe cá trảng lườn” -0
Ghe thuyền di chuyển trên sông nước miền Nam thời xưa (ảnh tư liệu)

Thành ngữ Việt Nam có câu "Công như công cốc". “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích: "Công cốc: Công sức bỏ ra vất vả khó nhọc nhưng bản thân người làm không được hưởng hoặc không đem lại kết quả: Tốn tiền của, thời gian mà rốt cuộc là công cốc". Tuy nhiên, tại sao công lại đi chung với cốc? Với từ công, ai cũng hiểu là công sức, công lao, công việc… Vậy cốc có nghĩa là gì? Sở dĩ đặt ra câu hỏi này vì ta biết rằng có những từ đôi, cả hai từ đều có nghĩa nhưng trải theo năm tháng, nghĩa của từ thứ hai đã phai đi, do đó khó có thể giải thích rõ ràng, chẳng hạn: chùa chiền, chợ búa, gà qué, khóc lóc, la lối… Do đó, tìm hiểu cốc là cần thiết để hiểu rõ vai trò của sự kết hợp này.

Đôi khi, cũng là công cốc nhưng còn tùy ngữ cảnh nữa, không thể áp dụng theo định nghĩa vừa nêu. Thí dụ, trong phóng sự "Nghệ thuật băm thịt gà", nhà văn Ngô Tất Tố viết: "Tiếng dao công cốc đụng vào mặt thớt (…). Mỗi tiếng cốc là một miếng thịt gà băng ra" (Việc làng và các tập phóng sự - NXB Văn hóa Thông tin - 2008, tr.37). Ở đây ta hiểu công cốc lại nhằm chỉ động tác/thao tác tạo ra âm thanh. Nghĩa này hầu như từ điển không ghi nhận, nếu có chỉ là "cốc cốc" ngầm hiểu mô phỏng theo: "Tiếng mõ kêu: Gõ mõ cốc cốc". Nghĩa rộng là gõ kêu như mõ gọi là cốc: "cốc đầu" - theo “Việt Nam tự điển” (1931). Thú vị ở động tác "cốc đầu", người miền Trung dùng từ "cú/ cú đầu", người Nam còn dùng từ "ký/ ký đầu". Ngoài ra, cốc còn có nhiều nghĩa nữa nhưng tôi không nêu ra, vì không liên quan gì đến cốc/công cốc mà “Đại từ điển tiếng Việt” đã giải thích.

Vậy cốc nghĩa là gì? Trước khi trả lời, ta hãy đọc lại câu ca dao:

Cồng cộc bắt cá dưới sông

Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ

Cồng cộc là tên gọi khác của cốc/ chim cốc. “Từ điển động vật và khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam” (NXB Y học - 1998) của Võ Văn Chi miêu tả: "Chim cỡ khá lớn với thân hình trứng và cổ dài. Mỏ có kích thước trung bình, thuôn tròn nhưng chóp mỏ hơi phình to hơn và có móng con, sắc…". Cốc sống ở ao hồ lớn, sông, cửa sông; ăn cá, tôm, ếch, nhái, đôi khi cả côn trùng… Sở dĩ cốc kết hợp với công/ công cốc là vì bao đời nay bà con nông dân đã nuôi cốc, huấn luyện cốc để phục vụ mình: "Người ta đeo một vòng mây hay sừng vừa khít cổ cốc, xong thả cho nó đi mò cá. Khi được cá thì cốc không thể nuốt vào cổ, mà để chủ gỡ ra một cách dễ dàng" (tr. 124).

Thế thì bao nhiêu công sức của con cốc đã làm đều bị chủ tước đoạt, vì thế tục ngữ còn có câu "Cốc mò cò xơi". Cò hiểu theo nghĩa bóng chính là ngư ông, là người nuôi cốc. Cái sự công cốc này còn có từ tương đương "công toi" mà “Từ điển tiếng Việt” (1977) do Văn Tân chủ biên đã ghi nhận. Toi có nghĩa là chết/ chết toi, là chết vì dịch bệnh truyền nhiễm nào đó nên mới có từ “mắc toi”, khi nói gia súc như trâu toi, bò toi là hiểu theo nghĩa này. Nhân đây cũng xin nhấn mạnh ở trong Nam còn có… “cái toi”, tức “cái rộng/ cái đụt” mà “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích: “Đụt: Đồ đan bằng tre, thon hai đầu, dùng đặt tiếp vào lưới đáy để chứa tôm cá”. Rõ ràng cùng một vật dụng nhưng tên gọi có khác nhau, tùy vùng miền.          

Thí dụ, khi người bạn Nguyễn Khuyến lặn lội từ xa, nhọc công vượt núi trèo đèo đến thăm cụ, những mong say tít cung thang bởi “khách đến nhà không gà thì vịt” nhưng tận mắt chứng kiến:

Ao sâu nước cả khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.

Liệu có là công cốc? Không đâu. Dẫu không gà, cá, kể cả “cà mới nụ”, “bầu vừa rụng rốn”, “mướp đương hoa”, “trầu không có” nhưng không sao cả. Ở đây, còn có một thứ lớn hơn nữa, chính là tình bạn. Tấm lòng của bạn dành cho bạn: “Bác đến chơi đây ta với ta”. Giữa “bác và ta” đã là một, đã cùng một từ “ta”, bạn là ta mà ta cũng là bạn, không có sự phân biệt chủ và khách. Ý nghĩa của bài thơ, theo tôi là chỗ đó, tình bạn dành cho nhau “ta với ta”, chứ nào phải bày biện gà qué, bia bọt bù khú, “xả láng sáng về sớm” theo thói thường. Nghĩ như thế, để thấy rõ hơn nữa sự thanh bần an lạc của một bậc túc nho như cụ Yên Đổ. Khi khách đến thăm nhà bạn, đã đặt chân đến nhà/ vườn như thăm nhà cụ Yên Đổ, còn có trường hợp:

Anh đi ghe cá trảng lườn

Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em.

 Vậy, khi chàng trai từ Gia Định “xuống vườn” là cũng đến tận cái vườn của cô này? Hiểu như thế không sai nhưng từ vườn ở đây không chỉ có thế, cần phải hiểu theo nghĩa rộng hơn, vườn trong câu ca dao này nói tắt của từ “miệt vườn” ở trong Nam. Nhà văn Sơn Nam giải thích: “Miệt vườn, gọi tổng quát những vùng cao ráo, có vườn cam, vườn quýt ở ven sông Tiền, sông Hậu, thuộc tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ. Miệt vườn tiêu biểu cho hình thức sanh hoạt vật chất và cao nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chúng ta đã nghe những danh từ: về vườn, gái vườn, công tử vườn, điếm vườn, bắp vườn, nhà vườn” (Văn minh miệt vườn, NXB Văn Hóa - 1992, tr.17). Nhờ hiểu như thế, khi đọc Sài Gòn tạp pín lù (NXB Hội Nhà văn - 1990) ta mới hiểu rõ từ vườn qua câu nói của một người trong đó nhận xét: “Nói chí đáng, mụ này tuy dữ, nhưng cũng gốc ở vườn mới lên nên không dám ỷ thị cho lắm” (tr.41). “Ở vườn”, nói chung  là ở một trong những vùng đất mà nhà văn Sơn Nam đã nêu ra.

Như vậy, anh chàng “đi ghe cá trảng lườn” là đi từ vùng đất này đến một vùng đất khác, chứ không phải đi “xuống vườn” thuộc địa phận tỉnh Gia Định. Nói tắt của từ “miệt vườn”, còn có:

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

Câu ca dao trên cho thấy chẳng người mẹ nào muốn con gái mình gá duyên ở nơi xa xăm, đồng không mông quạnh, chó ăn đá gà ăn sỏi mà vẫn luôn mong ước được gả con “về vườn/ về miệt vườn” cho ấm thân. Tại sao? Nhà văn Sơn Nam cho biết: “Miệt vườn là nơi trù phú. Gái miệt vườn giỏi về nữ công gia chánh, nhìn nhận rằng chỉ có trai Gia Định mới xứng đáng làm người yêu:

Ghe ai đỏ mũi xanh lườn

Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em (SĐD , tr. 19-20)”.

Cùng một nội dung nhưng ta đã thấy khác nhau đôi chữ, quan sát kỹ, ta thấy từ “lườn” vẫn giữ lại. Xin hỏi hỏi lườn nghĩa là gì? Có liên quan gì đến lườn hiểu theo nghĩa: “Phần thịt nạc ở hai bên ngực, thường nói về loài chim, loài cá: Lườn cá, lườn gà, mặc áo hở lườn” - theo “Việt Nam tự điển” (1931); “Phần cơ hai bên hông hoặc hai bên cột sống người và động vật: ăn lườn cá” - theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999)? Với quan niệm của người Việt xưa:

Đàn ông đóng khố đuôi lươn

Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh.

Nhưng lườn, với người miền Nam cũng còn có nghĩa là trườn - nhoi lên, bò sát bụng, nằm sấp mà lết tới. Ta hãy xem “Đại Nam quấc âm tự vị”  (1895) giải thích về từ lườn: “Trườn, bò; lòng máng dài, nguyên cây dài mà mổ lòng máng; cái ruột cá. Lườn ghe: Lòng chiếc ghe; ghe mình lườn: Ghe trỗ luôn một khúc gỗ dài; lườn cá mòi: Ruột cá mòi, cái bao trong bụng cá mòi; rắn lườn: rắn trườn”. Qua đây, ta thấy trong Nam đã có cách hiểu khác với vùng miền khác về từ lườn. Lườn còn là tên gọi của loại ghe/ ghe lườn: “Ghe nhỏ mà dải, nguyên một khúc cây mổ ra, giống cái lườn ghe khác, cũng kêu là độc mộc thuyền” - tự vị này cho biết. Trở lại với câu ca dao:

Anh đi ghe cá trảng lườn

Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em.

Chúng ta đã hiểu rõ nghĩa rồi chăng? Chưa đâu, vẫn còn một thắc mắc nữa là “trảng”, tại sao lại xuất hiện trong ngữ cảnh này? Vô lý quá, bởi “Trảng: Trống trải, bẳng phẳng, không bị che khuất: Đứng trảng một mình; lựa chỗ trảng trồng cây mới tốt. Khoảng đất chỉ có một thứ cây hay một vật khác giữa rừng rậm: Trảng Bàng, Trảng Bom” - theo “Việt Nam tự điển” (1970).

Từ trảng này, có lẽ nhiều người ngạc nhiên khi biết còn sử dụng trong nghề ăn ong ở rừng U Minh (Cà Mau). Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 27/5/2023 có đăng bài “Bí quyết chọn trảng, gác kèo” của nhà báo Sơn Lâm - Khắc Tâm, tôi thật sự ngạc nhiên một cách hào hứng khi tiếp nhận thông tin giải thích về từ trảng: “Trảng là cái khoảng trống để gác kèo. Người thợ biết ăn ong, khi lội rừng mà gặp một trảng êm là sướng dữ thần, bỏ hết mục đích ban đầu để kiếm kèo mà gác. Trảng êm, gác đúng trong mùa bông tràm thì có khi vừa gác xong đã thấy ong dò đường bay về".

Vậy, ta hiểu thế nào về từ “trảng/ anh đi ghe cá trảng lườn”? Trảng trong ngữ cảnh này, từ danh từ đã hoán đổi qua tính từ nhằm chỉ vật dụng: “Trẹt, bằng phẳng. Ghe trảng lòng” - “Phương ngữ Nam Bộ” (2015) của Bùi Thanh Kiên giải thích. Như ta biết ngày xưa, loại ghe lườn là “nguyên cây dài mà mổ lòng máng”, vậy “lòng máng” có thể sâu hay trảng/ trẹt/ cạn tùy mục đích sử dụng; ở đây trảng lòng và hình thức bề ngoài của lườn đã được “o bế” bằng phẳng, đẹp mắt. Chọn lấy ghe lườn cỡ này mới bảnh, mới oách bởi mình từ chốn thị thiềng đô hội về miệt vườn, không phải đi buôn cá mà chính là “thăm em”.

Thiết nghĩ, một khi đi tìm hiểu ý nghĩa lời ăn tiếng nói của ông bà mình thể hiện trong ca dao, tục ngữ dù bất kỳ vùng miền nào cũng là điều không dễ dàng. Một khi chúng ta có ý thức tìm về dấu vết văn hóa ngàn năm của người Việt, có thể nhìn từ kiến trúc miếu mạo. đình chùa, từ những di tích còn sót lại, từ thư tịch v.v… thì còn tìm thấy trong “văn chương bình dân” lưu truyền từ đời này qua đời khác, có thể chỉ truyền miệng nhưng đó chính là vẻ đẹp của những “viên ngọc” còn tồn tại muôn đời trong tâm thức dân gian mà sóng gió thời gian không thể che mờ, không thể xóa bỏ…

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?