Yến Lan - thuyền hồn bơi khỏi Bến My Lăng

Nhắc đến Yến Lan, người yêu thơ nhớ ngay "Bến My Lăng". Tất nhiên, không có bến My Lăng thực sự như tên gọi, một khúc sông nhỏ trên mảnh đất xưa bên thành Đồ Bàn, đã được Yến Lan thi vị hóa: "Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách. Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu/ Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách. Ông lái buồn để gió lén mơn râu...". 

Ngày 2-3-1916, nhà thơ Yến Lan chào đời tại huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chớp mắt, 100 năm đã trôi qua, chàng trai có tên thật Lâm Thanh Lang ấy đã in bóng mình vào đời sống thi ca nước ta bằng những cảm xúc nhẹ nhàng và tinh tế. Yến Lan đã cùng với Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử khởi xướng dòng Thơ Loạn nức danh thời Thơ Mới. Khi biên soạn "Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh đã nhận định: "Xem thơ Yến Lan, tôi mơ màng như đi trong mây mù. Khi đầu thì cũng hay hay, nhưng dần lâu cơ hồ ngạt thở". Thế nhưng, theo hành trình sáng tạo, thơ Yến Lan đã mở rộng thêm nhiều chiều kích!

Nhắc đến Yến Lan, người yêu thơ nhớ ngay "Bến My Lăng". Tất nhiên, không có bến My Lăng thực sự như tên gọi, một khúc sông nhỏ trên mảnh đất xưa bên thành Đồ Bàn, đã được Yến Lan thi vị hóa: "Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách. Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu/ Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách. Ông lái buồn để gió lén mơn râu...".

Bà Nguyễn Thị Lan cùng nhà thơ Yến Lan và con gái trong những năm tháng tập kết ra Bắc.
Bà Nguyễn Thị Lan cùng nhà thơ Yến Lan và con gái trong những năm tháng tập kết ra Bắc.

Bài thơ "Bến My Lăng" nhanh chóng giúp Yến Lan thành danh. Độc giả không nhất thiết phải biết nhân vật ông lão trong bối cảnh bài thơ có từ nguyên mẫu nào, nhưng chính vần điệu đã phản ánh khao khát vượt thoát không gian tù đọng để bay cao, bay xa của Yến Lan: "Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách/ Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng/ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng".

"Bến My Lăng" ám ảnh cả đời Yến Lan. Sau rất nhiều năm bôn ba, Yến Lan vẫn đau đáu khoảng trời mộng mị thuở ban đầu, trong bài "Qua bến My Lăng", ông viết: "Thăm quê về lại bến trăng xưa/ Còn tưởng đêm nay đứng gọi đò/ Chưa kịp nhớ ra lòng có hẹn/ Chèo ai cập bến đã vang khua". Tuy nhiên, Yến Lan không chỉ biết mơ màng, mà ông còn là một con người hành động. Khi nhìn thấy ánh sáng Cách mạng, Yến Lan đã cất bước lên đường không một chút đắn đo.

Không khó nhận ra điều này ngay trong chính thơ Yến Lan. Hai lần ông thảng thốt "Ôi" với quê nhà có khoảng cách 10 năm, là hai tâm trạng hoàn toàn khác biệt. Nếu bài thơ "Bình Định 1935" có giọng điệu bi thương: "Ôi Bình Định tự thanh cao trao gửi/ Buồn xế tà qua mấy cửa rêu xanh/ Nơi đến đọng những vũng chiều lạnh đợi/ Buổi trăng gầy, gió lụy xuống mong manh", thì bài thơ "Bình Định 1945" đã có giọng điệu lạc quan: "Ôi Bình Định, đau thương gài trước ngõ/ Mẹ ru con trong bóng tối phập phồng/ Trong tay áo còn nghe dài tiếng thở/ Bỗng thấy quanh thềm hát núi, ca sông".

Tham gia kháng chiến, Yến Lan tập kết ra Bắc, cư ngụ ở căn gác nhỏ 37 Hàng Quạt - Hà Nội. Vẫn ngôn từ bình dị, Yến Lan ca ngợi những người chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc. Chẳng hạn, bài thơ "Bếp lửa đêm nay" viết năm 1971: "Vẫn những tiếng đơn sơ quen thuộc. Mà thiết tha, mà lắng đọng, bộn bề. Như đã từng nghe, như vốn chưa nghe. Trong bận rộn giữa lòng người ở lại".

Non sông thống nhất, Yến Lan hoàn thành sứ mệnh một công dân yêu nước và chọn quê nhà An Nhơn - Bình Định để nghỉ hưu. Mảnh đất từng khiến Yến Lan tuổi 21 quặn thắt: "Chiều nay mở cửa ra trông/ Thấy làng đâu? Chỉ thấy lòng mà thôi!" tiếp tục nuôi dưỡng hồn thơ ông. Căn nhà quay mặt ra chợ ồn ả sớm tối, nhưng phía sau cánh cửa lặng yên vẫn cặm cụi cái dáng gầy gò của Yến Lan bên bàn viết.

Hơn 10 năm trước khi qua đời vào ngày 5-10-1998, Yến Lan chuyên tâm với thể loại tứ tuyệt. Hơn một lần Yến Lan khẳng định, thành tựu của ông nằm ở thơ bốn câu. Như một cách chia sẻ với người chồng tài hoa và nhẫn nhịn, bà Nguyễn Thị Lan - vợ của Yến Lan, đã lấy hết số tiền bản thân dành dụm để in tuyển thơ "Tứ tuyệt Yến Lan" (NXB Văn Học - 2006). Nhờ tình cảm chắt chiu của người vợ hiền, bức chân dung thâm trầm, từ tốn và đôn hậu của Yến Lan đã hiện ra trong thơ tứ tuyệt!

Thơ tứ tuyệt luôn đòi hỏi sự quan sát thấu đáo, sự chiêm nghiệm sâu sắc và sự thể hiện khéo léo. Yến Lan hội đủ phẩm chất ấy, nên bất kỳ sự trống trải xa vắng nào đó vừa thoáng qua đời ông cũng dễ dàng tụ lại bốn câu gọn gàng và xao xuyến. Bài "Hoa tặng" viết từ năm 1936 có thể là minh chứng thuyết phục cho khao khát tứ tuyệt thường trực ở Yến Lan: "Tuổi trẻ băng đồng đi hái hoa/ Tặng em, ngấp nghé chực quanh nhà/ Người không ra đón hoa dần héo/ Héo cả làn mây đỉnh núi xa".

Đọc tứ tuyệt Yến Lan cứ thấy thương một con người lúc nào cũng suy tư. Hầu như chuyện gì cũng làm ông nghĩ ngợi, nghĩ ngợi bằng tất cả gan ruột và nghĩ ngợi bằng… bốn câu mới thật đáng nể. Ông nghĩ ngợi về "Mùa chim di cư" xa vắng: "Mùa chim di cư, mồng két ra đi/ Chiều thị trấn khói nhòa mây tiễn/ Thoảng nghe tự đàn chim rơi một tiếng/ Cái nghẹn nghèo mắc kẹt giữa chia ly".

Ông nghĩ ngợi về sân khấu "Chèo" ngổn ngang: "Vò rối tơ, rồi gỡ rối tơ/ Gỡ không ra mối lại đem vò/ Nàng Vân giả dại, nàng Vân dại/ Vân dại nên đời cũng ngẩn ngơ". Ông nghĩ ngợi về "Trò giữa chợ" lắm thị phi: "Chen chúc đám đông nhìn/ Múa may đoàn mãi võ/ Cái giá của niềm tin/ Hạ dần theo buổi chợ". Và ngay cả "Chuyện ở Chí Hòa" cũng làm ông bẽ bàng thay người đàn bà bị giam cầm: "Đang giờ con được bú/ Hai bầu sữa căng đau/ Trẻ gào ra tiếng nổ/ Mắt mẹ xuyên tường lao".

Ngòi nổ của thơ tứ tuyệt luôn được gài kín đáo ở câu cuối cùng. Nếu câu cuối cùng yếu ớt thì tác phẩm bốn câu chỉ có "tứ" mà không có "tuyệt". Yến Lan là một "cao thủ" trong nghề, nên câu cuối cùng của ông bao giờ cũng "tuyệt". Có khi ba câu trước chỉ là sự kiện đẩy đưa, là thông tin mơn mớn, là chi tiết tầm phào, để câu thứ tư chuyển tất cả những thứ vẩn vơ vô định kia về với thi ca đích thực.

Có thể chứng minh với hai bài tứ tuyệt của Yến Lan, một bài đã rất nhiều người biết và một bài chưa hẳn mấy người biết, đều khẳng định "nội công thâm hậu". Bài "Cầm chân em, cầm chân hoa" lơ đãng trong miền lãng mạn: "Em đến xin hồng, hồng mới nụ/ Hôm nay hồng nở bóng em xa/ Cầm em bữa trước em không ở/ Giờ biết làm sao cầm được hoa". Bài "Bức thư của biển" nhì nhằng trong chuyện đời thường: "Nhặt bức thư tay cuối bến thuyền/ Gửi ai, ai gửi, chẳng đề tên/ Đón từng thủy thủ toan trao lại/ Lòng bỗng cù lao giữa đất liền". Hãy thử hình dung, nếu bỏ câu thứ tư hoặc thay bằng câu dang dở ở cả hai bài thơ trên thì chúng ta chỉ có hai bản diễn nôm cuộc sống thôi.

 Đọc tứ tuyệt Yến Lan, độc giả mường tượng đã có không ít dịp nhà thơ bất lực trước xao xác kiếm tìm câu "tuyệt". Khi lâm hoàn cảnh trớ trêu ấy, kẻ làm thơ tầm thường đành thở dài, còn Yến Lan hành động theo cách thi nhân: "Thức suốt đêm thu bóng nguyệt tà/ Bài thơ viết tặng nghĩ không ra/ Dầu hao bấc lụn đèn hiu hắt. Gác bút ra vườn hỏi ý hoa".

Yến Lan "gác bút ra vườn hỏi ý hoa" không chỉ để bốn câu của ông trở thành tứ tuyệt, mà để tâm hồn ông trong trẻo hơn, thánh thiện hơn. Con người có thể đạo đức giả ở nơi chen lấn nào đó, nơi son phấn nào đó, thậm chí nơi trang trọng nào đó, nhưng không thể nào đạo đức giả trong thơ. Không phải đến bài thơ "Sinh nhật 1998" thì Yến Lan mới thương mến trần gian "lệ từ năm trước lại rưng rưng", mà Yến Lan luôn mở lòng với những số phận xung quanh ông. Ông thương con và thương cả cây chanh con trồng trước ngày đi xa, đến mức ông đọc được lời "Hẹn gì" từ thiếu nữ hàng xóm: "Tính đến năm này năm thứ ba/ Cành chanh con chiết đã ra hoa/ Chẳng hay có hẹn gì cô ấy/ Sáng sáng bên rào vẩy nước qua".

Đọc tứ tuyệt Yến Lan, bỗng ngộ ra một điều đơn giản mà thanh cao: Sự nghiệp thi ca của một nhà thơ dày hay mỏng không phải tuổi thọ dài hay ngắn, không phải năng khiếu trời phú ít hay nhiều, mà quan trọng là gắn bó bao nhiêu với cõi đời, trân trọng bao nhiêu với con người. Nếu Yến Lan không biết "Tránh rét" dùm hàng xóm thì ông không thể viết được bốn câu rung động tin yêu: "Mỗi bận vào đông mở cửa nhìn/ Vẫn hồi gió bấc tạt ngoài hiên/ Nửa toan tránh rét nhà quay hướng/ Nửa ngại cô đơn bạn láng giềng".

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.