Xuân này lặng lẽ đền Và

Có một ngôi đền thiêng nổi tiếng mang tên rất giản dị mộc mạc - đền Và - thờ Tản viên Sơn Thánh (vị Thánh đứng đầu trong tứ bất tử của người Việt) tại thôn Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây. Vị Thánh huyền thoại, người có công giúp dân, giúp nước trị thuỷ, đắp đê từ lâu trở thành tượng đài bất hủ trong lòng người dân Việt.

Đền Và được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ năm 1964. Tết đến, xuân về, người dân khắp chốn đổ về đây nườm nượp cầu mong một năm mới an lành, khang thái, mưa thuận gió hoà. Nhưng năm nay lại tiếp là năm thứ hai, ảnh hưởng dịch COVID - 19, cả dịp Tết cho đến nay ngôi đền vẫn cửa đóng then cài im lìm không tiếp khách.

Đền Và.
Đền Và.

Ngôi đền nằm trên một quả đồi thoai thoải, có dáng hình tựa con rùa đang bơi về hướng mặt trời mọc. Con rùa là một trong tứ linh “Long, li, quy, phượng” vẫn thường xuyên xuất hiện nơi tâm linh tín ngưỡng. Đây là linh vật tượng trưng cho sự trường tồn, vĩnh cửu, bất biến với thời gian. Con rùa bơi về phía mặt trời tượng trưng cho nguồn sinh khí, nuôi sống vạn vật. 

Theo sách sử ghi chép lại ngôi đền có từ thế kỉ XVI-XVII mới đầu chỉ bằng tranh tre nứa lá, giờ được xây bằng gạch đá xi măng. Nhìn từ xa ngôi đền yên bình, thơ mộng thấp thoáng giữa rặng cây già hàng trăm năm tuổi.

Khác hẳn với những năm trước, cứ vào dịp ra Giêng là khách bộ hành đổ về đền Và rất đông từ sáng sớm tinh sương đến khi trời tối hẳn. Nhưng năm nay theo chủ trương của Chính phủ, các nơi tâm linh, tín ngưỡng, thờ tự… tạm thời đóng cửa để tránh dịch nên ngôi đền càng thêm yên ắng, tĩnh mịch. Tuy nhà đền đóng cửa không đón khách nhưng vẫn cắt cử những cụ từ trong làng ra trông nom, quét dọn, lên hương. 

Ông Chu Văn Bình - một trong những người trông nom ngôi đền kể: “Đền Và có 20 cụ từ đều là người của thôn Vân Gia, được thôn, xã bầu ra để trông nom ngôi đền. Người được bầu phải là người có đủ đức, phải tề chỉnh, gia đình con cái phải ngoan hiền, không có điều tiếng gì với làng xóm. 

Ngoài ra phải lại người biết chữ đẹp còn thảo những bài văn tế, hay viết sớ dâng Thánh. Không chỉ là trông nom, sửa soạn lễ vật, dâng hương, mà cả 20 cụ từ đều là người trong làng Vân Gia còn biết khua chiêng, đánh trống. Tục lệ này đã nối từ nhiều đời nay. 

20 người chia ra làm 4 ca trực. Mỗi ca trực có 5 người. Trong tháng vào ngày mồng 1 và hôm rằm là hai ngày tất bật nhất. Có khi cả ngày không lấy được một phút nghỉ ngơi. Mọi năm vào giờ này đền Và đông lắm, khách kéo đến từ đêm 30 Tết sang canh cho đến ngoài rằm tháng Giêng, lắm khi huy động cả 20 cụ từ ra đền để làm việc công. Vậy mà năm nay vướng COVID-19, các nhà đền, nhà đình đóng cửa hết, chùa chiền miếu mạo vắng như chùa bà đanh”.

Ban thờ trong đền Và.
Ban thờ trong đền Và.

Còn ông Chu Văn Thực pha trà cho khách bảo: “Ngay cả sau tháng Giêng rồi thì hàng tháng cứ đến ngày mồng 1, hôm đấy mà dính phiên ai trực thì đầu tắt mặt tối, làm không hết việc nhà Thánh đâu. 3 giờ sáng là mấy người ở ca trực hôm đấy đã phải dậy để  quét dọn, 4 giờ sáng lên hương, còn 5 giờ sáng là tụ họp đủ cả 20 cụ từ ra trước cửa đền để cắt cử ai vào việc nấy. 

Mọi ngày còn đỡ, chứ cứ đến mồng 1 là y như rằng các cụ ở đây chỉ ăn tạm nhoáng nhoàng bát mì tôm, hoặc đĩa bánh cuốn cho xong qua bữa còn làm. Đồ lễ người ta cung tiến nhiều lắm, nhưng mình bận, mệt, lại chả có thì giờ mà ngồi thong dong ăn đâu”.

Ông Phùng Văn Nhiên - một cụ từ trong ca trực - cho biết: “Lễ hội chính là hội xuân được tổ chức vào rằm tháng Giêng với nghi lễ trung tâm là rước long ngai bài vị "Tam vị Đức Thánh Tản" từ đền Và qua sông Hồng sang tả ngạn đến đền Dội ở làng Di Bình, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc để tế lễ và diễn lại sự tích Đức Thánh Tản Viên tắm, sau đó quay trở lại đền Và. 

Cứ ba năm lại mở hội lớn một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Trong ba ngày rằm tháng Giêng âm lịch (15,16,17-1). Chiều ngày 14 thì làm lễ phong triều và chiều ngày 17 thì kết thúc lễ hội. Đến ngày rằm 15-9 là lễ hội chính diễn ra trong 1 ngày. Lễ hội này được coi là đông vui nhất xứ Đoài và luôn giữ được thuần phong mỹ tục với tuần tiết, sắc vọng đều được tế lễ và những bài văn tế từ xa xưa để lại. Lễ hội với đoàn rước dài tới 3 - 4km cùng sự tham gia của hàng nghìn người”.

Ngoài hội xuân, ở đền Và còn có hội thu được tổ chức vào rằm tháng chín với nghi thức chính là đánh bắt cá ở sông Tích để chọn ra 9 con cá chép to. Mỗi một kiệu sẽ có 3 con cá chép. Ba kiệu tổng cộng là 9 con cá chép được làm các món ăn ngon để tế Thánh. 

Tục tế cá xuất phát từ truyền thuyết Thánh Tản Viên dạy người dân kéo vó và bắt được 100 con cá, trong đó có một con cá trê đang có mang được Ngài phóng sinh, sau này con cá trê đó sinh được 9 con, đều hoá đá, đầu chầu về hướng Đền Và. Những ngày lễ hội, hàng nghìn người dân của các làng trong thị xã Sơn Tây, Hà Nội và làng Di Bình, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, cùng du khách thập phương nô nức tham dự các hoạt động.

Các ông cụ trông đền kể: Trong các lễ hội của xứ Đoài thì lễ hội đánh bắt cá trên sông Tích được xem như một lễ hội lớn nhất có từ cổ xưa. Xứ Đoài là một dải đất nằm trên vùng châu thổ sông Hồng, thổ nhưỡng này hợp với nghề lúa nước, trồng trọt và đánh bắt cá. 

Chuyện kể rằng, từ thời phong kiến xa xưa, khi đấy làng còn dùng đèn dầu tù mù và trong làng trong tổng từ Lý trưởng cho đến tuần đinh đều nhất mực tuân theo những điều lệ gia phả được các cụ chức sắc soạn thảo về tiến trình tế lễ cúng cá dâng Thánh cho ngày rằm tháng chín. 

Để chuẩn bị cá cho ngày lễ Thánh vào rằm tháng 9 thì người dân chỉ được đánh cá trong địa giới hành chính đã được soạn thảo. Để tránh nhầm lẫn, mỗi người xuống đánh được phát cho một cái lạt nhuộm màu để phân biệt cá nhà ai, mầu nào, rổ nào. Những con cá chép to nhất sẽ được buộc lạt để ngày 15 các đầu bếp sẽ trổ tài nấu ăn dâng lên Thánh. 

Khúc sông đấy trong những ngày lễ tế Thánh không được ai bén mảng ra đấy mà câu cá mang về nhà ăn, tuần đinh bắt được sẽ bị phạt thật nặng. Luật là vậy, nhưng chuyện tâm linh cũng không ai dám trái ý đến nửa lời, nhà nào nhà nấy đều nghe răm rắp. Họ nhất tề chỉ nghĩ đến việc có cá to nhất mang lên cúng Thánh - vị Tổ được gọi là “Thượng đẳng tối linh thần” hay “Đệ nhất phúc thần”. 

Họ tin khi cúng Thánh bằng lòng thành sẽ có phúc, có đức. Mà có phúc cuộc sống sẽ sung túc, có đức mặc sức mà ăn. Nên ai nấy một lòng đều chăm chắm mong có cá chép thật ngon để được cúng Thánh. Giờ thời thế cũng đã khác, khi xưa người ta chỉ đánh cá bằng cách lội xuống nước dùng nơm, giỏ, cần câu, ngày nay người ta đi thuyền đi xuồng, dùng lưới thu cả mẻ cá lớn, rồi chọn con cá nào lớn nhất. Mà có khi là con cá trắm chứ không chỉ cúng Thánh bằng con cá chép như ngày xưa”.

Mặc cho những trận cuồng nộ của thiên tai, dịch bệnh, nhưng sự linh thiêng bất biến vẫn sừng sững trường tồn hiện hữu tại nơi đây. Vẫn ngôi đền đã hiện diện hàng trăm năm tuổi trên quả đồi giữa rừng cây già xào xạc lá. Vẫn hàng đá ong lâu đời có tường thành cao 2m bao bọc xung quanh ngôi đền. 

Vẫn hai dãy tả mạt, hữu mạt gác trống, gác chuông rồi nhà tiền tế, nhà hậu cung. Vẫn cửa đền có tam quan rộng, mái lợp ngói cổ, trên đỉnh đắp nổi hình lưỡng long triều nguyệt. Vẫn Nghi môn - cổng chính của đền, hướng về núi Tản Viên (huyện Ba Vì) gồm ba gian dựng trên nền cao. Vẫn cảnh sắc non nước trữ tình như bức tranh sơn thuỷ đẹp và huyền bí đến nao lòng.

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.