Xứ Nghệ nhân kiệt phảng phất hình bóng đế đô

Mùa hạ 2025, chúng tôi từ TP Hồ Chí Minh bay ra xứ Nghệ, vùng đất ngày nay bao gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trên dải đất hình chữ S, có lẽ xứ Nghệ là một trong những nơi xứng danh “địa linh nhân kiệt”, với bốn Danh nhân Văn hóa Thế giới là Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Lê Hữu Trác, Hồ Chí Minh, đồng thời từng phảng phất hình bóng đế đô thời Mai Hắc Đế và được vua Quang Trung chọn xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô. Xứ Nghệ cũng đang chuyển mình mạnh mẽ thời đất nước tinh giản, sáp nhập,…

Xứ Nghệ xưa kia vốn là vùng sinh sống của bộ lạc Việt Thường với trung tâm là quanh chân núi Hồng Lĩnh, cho tới thời Hùng Vương thì bộ Việt Thường là một trong 15 bộ lạc của nước Văn Lang cổ đại. Đến năm 1490, dưới triều vua Lê Thánh Tông, vùng đất này được gọi là xứ Nghệ An, một thời gian dài sau đến nhà Tây Sơn mới đổi thành Nghĩa An trấn.

Năm 1802, Vua Gia Long nhà Nguyễn, đặt làm Nghệ An trấn. Đến năm 1831, Vua Minh Mạng chia xứ Nghệ thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, sau đó sáp nhập gọi là An Tĩnh, rồi lại chia tách. Năm 1976, đất nước thống nhất, Nghệ An và Hà Tĩnh một lần nữa sáp nhập thành tỉnh Nghệ Tĩnh, rồi lại chia tách thành Hà Tĩnh và Nghệ An vào năm 1991 cho tới nay.

den tho quang trung-anh ph.jpg -0
Đền thờ Vua Quang Trung trên núi Quyết.

Chúng tôi được nhà thơ Nguyễn Văn Hùng và nhà lý luận phê bình Đinh Trí Dũng đưa đi thăm một số di tích, thắng cảnh xứ Nghệ. Theo hai anh, mặc dù trải qua nhiều lần tách nhập nhưng Nghệ An - Hà Tĩnh vẫn luôn là xứ Nghệ “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ” chung một dòng lịch sử, nền tảng văn hóa, phong tục tập quán, cốt cách ứng xử.

Tuy nhiên cũng có một chút khác biệt giữa Nghệ An và Hà Tĩnh. Người Nghệ An mạnh mẽ, quyết đoán hơn nên đạt rất nhiều thành công trên hoạn lộ quan trường hoặc chính trường. Còn người Hà Tĩnh nhẹ nhàng, uyển chuyển hơn nên gặt hái nhiều thành tựu văn học nghệ thuật nổi trội, nhất là thời kỳ hiện đại. Tuy nhiên, sự khác biệt này không lớn, bởi có những người Nghệ An cũng thành công vang dội về văn hóa, ngược lại có những người Hà Tĩnh trở thành lãnh đạo cao cấp hàng đầu đất nước.

Đất phên dậu và đế đô Vạn An của Mai Hắc Đế

Từ thời châu Hoan, xứ Nghệ đã là đất phên dậu phòng thủ, chống chọi các cuộc xâm lăng từ các triều đình phong kiến phương Bắc và Chiêm Thành ở phía Nam lẫn giặc cướp biển. Khi đất nước mở cõi về phương Nam, xứ Nghệ vẫn là vùng đất trọng yếu cho các cuộc hội quân, chiêu binh, khởi chiến. Với thế đất hiểm yếu, xứ Nghệ cũng từng hai lần được chọn làm đế đô.

Đưa tôi sang Nam Đàn dâng hương đền thờ Mai Hắc Đế, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Anh cho biết, tương truyền nhà vua tên thật là Mai Thúc Loan, còn gọi là Mai Huyền Thành quê làng Mai Phụ chuyên làm muối ven biển Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.

Bấy giờ châu Hoan thường xuyên bị cướp biển quấy nhiễu và sự đô hộ tàn bạo sưu cao thuế nặng của nhà Đường. Năm 722, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân phu đứng lên phất cờ khởi nghĩa. Nhân dân khắp các châu Hoan, Diễn, Ái (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) hưởng ứng mạnh mẽ. Ông còn tìm cách liên kết với các nước trong khu vực để chống lại nhà Đường.

Mai Thúc Loan xưng đế và đóng đô ở thành Vạn An bên bờ sông Lam. Từ kinh đô Vạn An, Mai Hắc Đế tiến quân ra Bắc tấn công phủ thành Tống Bình (Hà Nội) làm cho quan đô hộ Quang Sở Khách phải bỏ chạy về nước. Đất nước được giải phóng, nhân dân khắp nơi càng nô nức đầu quân dưới cờ khởi nghĩa. Sau khi cắt cử người ở lại giữ thành Tống Bình, ông rút quân về lại thành Vạn An phát triển thêm lực lượng.

Vào thời điểm ấy, nhà Đường dưới thời Huyền Tông - Đường Minh Hoàng đang cực thịnh. Chúng không muốn từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Vua Đường đã cử tướng Dương Tư Húc, đem 10 vạn quân cùng quan đô hộ Quang Sở Khách trở sang đàn áp cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế. Trải qua nhiều trận đánh từ sông Hồng vào sông Lam, vì chênh lệnh về binh lực nên nghĩa quân thất trận, thành Vạn An thất thủ. Mai Hắc Đế phải rút quân vào rừng sâu rồi bệnh mất. Con trai út của ông được tướng sĩ tôn lên ngôi là Mai Thiệu Đế nhưng chẳng bao lâu bị quân Đường sát hại năm 723.

Nghiên cứu về Kinh đô Vạn An, Giáo sư Trần Quốc Vượng trong bài viết "Mai Hắc Đế" cho biết: “Dọc bờ sông Lam, nghĩa quân đắp một chiến lũy dài hơn nghìn mét. Đấy là thành Vạn An nổi tiếng, có núi Đụn (Hùng Sơn) làm chỗ dựa; phía trong núi là dải thung lũng rộng vài chục mẫu, dùng làm nơi trữ lương thực, vũ khí; phía ngoài núi, có nhiều đồn trại đóng ở cạnh sườn; chung quanh núi, sông Lam vây bọc như con hào thiên nhiên. Bao quanh khu trung tâm (Vệ Sơn), nghĩa quân xây dựng một hệ thống đồn trại nương tựa lẫn nhau: Biểu Sơn (hình quả bầu), bảo vệ cánh tả, Liêu Sơn bảo vệ mặt trước, Ngọc Đái Sơn (hình ngọc) cạnh thành Vạn An, là đồn tổng chỉ huy, thống lĩnh cả hai đạo quân thủy bộ”.

Thành Vạn An là kinh đô đầu tiên đặt tại xứ Nghệ. Rất tiếc thành chỉ tồn tại trong gần một năm và bị tan vỡ theo cuộc khởi nghĩa thất bại của Mai Hắc Đế. Ghi nhớ công ơn Mai Hắc Đế và tướng sĩ, nhân dân đã lập đền thờ ông trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn. Đồng thời, tại địa phận thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có khu di tích tưởng niệm ông.

Dang dở Phượng Hoàng Trung Đô của Hoàng đế Quang Trung

Hơn một ngàn năm sau thành Vạn An, một kinh thành khác được xây dựng ở xứ Nghệ, không chỉ là truyền thuyết mà thực chứng rõ ràng. Đó là Phượng Hoàng Trung Đô. Sử liệu cho biết, những lần ra Bắc tiêu diệt quân chúa Trịnh và đại phá quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ đã có ý xây dựng kinh đô tại Nghệ An, quê hương của tổ tiên ông.

Vào ngày 1/10/1788, Hoàng đế Quang Trung đã ban chiếu gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp về việc xây dựng đế đô, trong đó có viết: “Nhớ lại buổi hồi loan kỳ trước, lúc qua Hoành Sơn, quả cung từng mở xem địa đồ, thấy ở huyện Châu Lộc, xã Yên Trường hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây kinh đô mới. Thực là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy”.

Được sự tham mưu của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Hoàng đế Quang Trung đã chọn đất hiểm yếu Yên Trường để xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô. Đây là vùng đất hội tụ cả long - ly - quy - phượng, nằm giữa núi Phượng Hoàng và núi Kỳ Lân (còn gọi là núi Cánh Phượng và núi Con Mèo). Phía trước thành có sông Cồn Mộc và sông Lam, còn phía bên là núi Quyết, được ví như hào và thành thiên nhiên che chắn, bảo vệ.

Theo các nhà khoa học, việc chọn xứ Nghệ xây dựng kinh đô đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Hoàng đế Quang Trung, vì nơi đây là khoảng giữa cách Thăng Long 300km và cách Phú Xuân hơn 300km, thuận tiện cho việc đi lại và quản lý đất nước.

Hoàng đế Quang Trung đã trực tiếp giao cho danh tướng Trần Quang Diệu, một người tin cẩn thân thiết đang là quan Trấn thủ Nghệ An, phối hợp cùng La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp gấp rút xây dựng thành. Ngoài các vách núi làm thành lũy tự nhiên, Phượng Hoàng Trung Đô còn được xây đắp thêm 300m bờ thành nam, 450m bờ thành tây, với đầy đủ các công trình như thành nội, thành ngoại, cung điện, sân chầu.

Sách "Hoàng Lê nhất thống chí" đã viết: “Quang Trung liền sai trưng dụng rất nhiều thợ thuyền, chuyên chở gỗ đá, gạch ngói để xây dựng cung phủ, lâu đài. Đắp thành đất xung quanh và sai các quân lính đào đá ong ở địa phương để xây thành trong. Dựng tòa lầu 3 tầng cùng 2 dãy hành lang để phòng dùng đến khi có lễ triều hạ”.

Tiếc thay, khi sự nghiệp đang ở đỉnh cao thì Hoàng đế Quang Trung lâm trọng bệnh, thành Phượng Hoàng Trung Đô đang xây dang dở. Mùa thu năm 1792, biết mình không thể qua nổi, nhà vua cho triệu gấp Trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về Phú Xuân bàn việc thiên đô ra Phượng Hoàng Trung Đô và hợp sức giúp Thái tử giữ nước. Hoàng đế Quang Trung mất, triều đình tôn Quang Toản lên ngôi, triều đại Tây Sơn chỉ kéo dài thêm một thời gian ngắn thì sụp đổ trước sự phục thù của nhà Nguyễn. Từ đó, thành Phượng Hoàng Trung Đô dần bị hoang phế, trong khi Vua Gia Long lại cho xây một tòa thành khác ở Nghệ An nhưng không phải để làm kinh đô.

Phượng Hoàng Trung Đô hiện nay nằm ở địa phận phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Dấu tích tòa thành xưa còn lại khá mờ nhạt, chỉ với một vài đoạn tường thành, hào nước, nền móng một số công trình kiến trúc. Thắp hương tưởng nhớ tiền nhân, tôi đứng giữa đỉnh núi Dũng Quyết nhìn gió lộng mây bay mà ngẫm tiếc cho số mệnh Hoàng đế Quang Trung, tiếc cho Phượng Hoàng Trung Đô xứ Nghệ, mà cũng tiếc cho số phận dân tộc. Lịch sử không thể quay lại, nhưng nếu như Hoàng đế Quang Trung sống thêm vài mươi năm nữa thì chắc chắn nhiều điều kỳ diệu đặc biệt sẽ diễn ra. 

Đặc biệt, xứ Nghệ là vùng “địa linh nhân kiệt” sản sinh, hội tụ nhiều hiền tài cho đất nước, trong đó có bốn Danh nhân Văn hóa Thế giới lần lượt được vinh danh là Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Hồ Xuân Hương, Lê Hữu Trác cùng nhiều nhân vật lẫy lừng lịch sử khác trên nhiều lĩnh vực: Mai Hắc Đế, Hồ Tông Thốc, Bùi Cầm Hổ, Sử Hy Nhan, Nguyễn Xí, Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Biểu, Nguyễn Huệ, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Nghiễm, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Phan Bội Châu, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Thị Minh Khai, Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, Phan Anh, Lê Thước, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Phan Chánh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoàng Trung Thông…

Phan Hoàng

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...