Vượt lên tầm che phủ của những cái bóng

Khi mới chớm bước vào nghiệp viết lách, V.Hugo từng hùng hồn quả quyết, như một tuyên ngôn trước thế giới và như là một xác tín với chính mình: “Là Chateaubriand, hoặc không là gì hết!”. Trong chuyến sang Trung Hoa với vai trò của một ông Chánh sứ Việt Nam, đứng trước mộ Đỗ Phủ, thi hào Nguyễn Du thú nhận: “Thiên cổ văn chương thiên cổ sư/ Bình sinh bội phục vị thường ly”. (Ông là bậc thầy văn chương của muôn đời. Tôi luôn luôn không quên điều đó).

Trong những dòng nhật ký được viết vào năm 1933, khi mới tròn hai mươi tuổi, Nguyễn Huy Tưởng tỏ ra băn khoăn trước nhiệm vụ phải trở thành “thi sĩ của non sông”, cái nhiệm vụ mà ông tự đặt ra cho mình: “Than ôi! Công nghiệp không phải là dễ, mà ta vốn là kẻ ngu muội, há có thể đảm đang mà nhận cái chức làm thi sĩ của non sông như Homere của Hy Lạp, Virgile của La Mã, Camoens của Bồ Đào không?”.

Năm 1945, trong Bản tuyên ngôn tượng trưng của nhóm Dạ Đài, ba tác giả, còn rất trẻ, là Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Trần Dần đã bộc lộ cao vọng nghệ thuật của mình: “Chúng tôi sẽ nối lại: nghiệp dĩ của một Beaudelaire, tâm sự của một Nguyễn Du, sự nổi loạn và ra đi của một Rimbaud, nỗi cô đơn của những nhà thơ lãng mạn”.

image001.jpg -0
Văn hào Pháp Victor Hugo (1802 – 1885).

Bốn ví dụ, trong số rất nhiều ví dụ mà chúng ta có thể lấy ra từ lịch sử văn chương thế giới và Việt Nam, có cùng một mẫu số: đối với chủ thể của phát ngôn, người được nhắc tới trong phát ngôn chính là thần tượng của họ, ít nhất, vào thời điểm ấy. Tất nhiên, như thực tế cho thấy, cùng noi theo thần tượng song kết quả cụ thể của mỗi người thì không phải ai cũng giống ai.

V.Hugo, với tài năng cường tráng của mình, đã vượt qua và là một sự thay thế tuyệt vời cho Chateaubriand trong việc trở thành một tượng đài của văn chương lãng mạn chủ nghĩa. Nguyễn Du, ở mức độ nào đó, thực sự là một Đỗ Phủ của thơ ca Việt Nam thời trung đại. Nguyễn Huy Tưởng, với nhiều tác phẩm kịch và văn xuôi có giá trị về đề tài lịch sử Việt Nam, có lẽ cũng đã gần như thực hiện được cái hoài bão “làm thi sĩ của non sông”.Trong khi đó, các tác giả của nhóm thơ Dạ Đài, tuyên ngôn là như vậy, song bằng vào vài bài thơ lẻ tẻ in trong duy nhất một số Dạ Đài, thì thật khó có thể nói rằng họ đã thực hiện được một cách đáng kể cao vọng nghệ thuật của mình.

Nhưng, khoan nói về kết quả, hãy nói về chặng khởi đầu. Việc nhiều tác giả có thần tượng ở thời điểm hình thành văn nghiệp của mình thực ra là điều khá dễ hiểu. Không ai có thể tư duy từ một ký ức trống rỗng, không một nhà văn nào có thể sáng tác khi trên vỏ não của anh ta chưa ghi lại ấn tượng nào đó tích cực về một vài tác phẩm, tác giả văn chương. Tìm thấy một ai đó để tôn làm thần tượng, hoặc đơn giản là để học theo, để bắt chước, để cảm thấy yên tâm khi bước trong cái bóng của họ, xét cho cùng có lẽ cũng là một lựa chọn không tồi đối với người mới chập chững trên đường sáng tác.

Trong trường hợp này, xuất hiện một thứ tâm lý ít nhiều mang màu sắc tôn giáo: người ta có nhu cầu phóng chiếu cái Bản ngã của mình vào một Bản ngã khác (mà họ cho là) siêu việt hơn, và nhận ra giá trị của mình ở đó. Đến đây, trước hết, nảy sinh một câu hỏi quan trọng: cái Bản ngã ấy, cái bóng ấy, có thực sự là một giá trị văn chương đáng kể hay không?

Bởi lẽ có khá nhiều tác giả rốt cuộc đã vỡ mộng, đã phá sản niềm tin khi vào một ngày đẹp trời nào đó họ chợt nhận ra rằng bấy lâu nay họ đã bước đi trong một cái bóng ảo. Bóng ảo, vì thực chất đó chỉ là những giá trị phù du, sớm nở tối tàn, những thứ bong bóng xà phòng ngầu lên do một vài nguyên nhân đặc thù hoặc những tác động chính trị xã hội mang tính nhất thời nào đó.

Xét đến cùng, việc chọn ai, chọn người nào làm thần tượng, làm cái bóng văn chương của mình thì cũng chính là một trong những tiêu chuẩn để có thể đo “tầm” của tác giả. Tác giả (sẽ trở thành) lớn, ở thời điểm đầu sự nghiệp của mình, hiếm khi nào lại là người chọn thần tượng là một cái bóng ảo, đó là việc của những tác giả mãi mãi làng nhàng. Nhưng cũng không ít trường hợp, chọn được “bóng ra bóng” song cuối cùng thì cũng chẳng đi tới đâu. Nguyên nhân dễ thấy nhất, là vì tài năng của tác giả đó có lẽ không đủ để theo được cái bóng văn chương của mình, chứ chưa nói đến chuyện bứt ra khỏi tầm ảnh hưởng của nó: họ là những thứ cây cỏ bé mọn suốt đời bị cớm nắng dưới cái bóng của những đại thụ.

image003.png -0
Nhà văn Pháp Francois René de Chateaubriand (1768 – 1848), thần tượng thời trẻ của Victor Hugo.

Trở lại với chuyện những cái bóng trong văn chương, tôi muốn nói tới những cái bóng thật, chứ không phải những cái bóng ảo, trước hết, phải khẳng định rằng đó là những tác giả lớn, những tác giả đã cắm được dấu mốc đáng nhớ trong tiến trình phát triển lịch sử của một nền văn học dân tộc hoặc văn học nhân loại. Họ, bằng tài năng của mình, đã sáng tạo những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Những tác phẩm ấy đã tạo nên những điển phạm nào đó trong văn chương.

Hàng loạt ví dụ có thể được dẫn ra ở đây: Những tác phẩm bi kịch của Corneille và Racine đã biến hai nhà viết kịch của thế kỷ XVII thành hai cái bóng trùm lên cả nền sáng tác bi kịch Pháp trong suốt hơn một thế kỷ sau đó. Bộ tiểu thuyết “Hài kịch nhân gian” đồ sộ của Balzac, trong một thời gian khá dài, đã trở thành một căn cứ quan trọng để người ta có thể đưa ra định nghĩa xác quyết về thể loại tiểu thuyết, hay nói cụ thể hơn, một khuôn mẫu sáng tác tiểu thuyết mà người khác chỉ còn việc cứ thế làm theo. Kafka, được phát hiện sau khi qua đời, đã gần như ngay lập tức đóng vai người kiến tạo những motif chủ đề và những motif hình tượng nhân vật của văn học phi lý phương Tây thế kỷ XX. Trong văn học Việt Nam hiện đại, giọng thơ triết luận “kiểu Chế Lan Viên” khá phổ biến vào những năm 1960, 1970, sau khi ông Chế công bố tập thơ “Ánh sáng và phù sa” năm 1960. Tương tự như vậy là sự nhân bản rất rộng giọng thơ “kiểu Nguyễn Quang Thiều”, giọng văn “kiểu Nguyễn Huy Thiệp” trong thơ và văn xuôi thời kỳ Đổi mới và cả sau đó nữa v.v và v.v...

Một vài ví dụ như trên cho thấy điều gì? Thứ nhất, không thể chối bỏ rằng các tác giả ấy chính là người ghi dấu những thành tựu văn chương trong những giai đoạn nhất định. Và vì vậy, thứ hai, họ đã trở thành cái bóng của không ít tác giả khác, những cái bóng đôi khi bao phủ trên một tọa độ không- thời gian rất rộng. Nói cách khác, họ tạo ra một sự chững lại nào đó trong văn chương. Để có được sự phát triển liên tục, những cái bóng ấy cần phải được/ bị vượt qua, theo hai nghĩa: cao hơn hoặc khác đi. Điều này đòi hỏi những người viết đến sau hai phẩm chất quan trọng, là tài năng và ý chí sáng tạo độc lập.

V.Hugo thực hiện sự vượt qua đó một cách xuất sắc khi ông, trong bài Tựa vở kịch “Cromwell”, và đặc biệt là trong vở kịch “Hernani”, đã lần đầu tiên làm một trận chiến chống lại những nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển (những nguyên tắc mà nhờ đó Corneille, Racine từng đạt thành công vang dội) và phủ vòng nguyệt quế trên vai chủ nghĩa lãng mạn. Về cái bóng vừa vẻ vang vừa nặng nề của Balzac, như Kundera đã chỉ ra trong những nghiên cứu của ông về tiểu thuyết, phải chờ tới những thập niên đầu của thế kỷ XX mới được/ bị vượt qua nhờ những sáng tạo độc đáo của các nhà tiểu thuyết Trung và Đông Âu. Đặc biệt phải chờ tới một nhà văn đầy cá tính và mạnh mẽ như Alain Robbe Grillet, cái di sản của Balzac mới bị phủ định một cách toàn diện, và qua đó dọn đường cho Tiểu thuyết Mới ra đời (Về những khái niệm đã lỗi thời).

Trong văn học Việt Nam, theo ý chủ quan của tôi, hiếm thấy những sự vượt qua quyết liệt như vậy. (Nhóm Dạ Đài, trong Bản tuyên ngôn tượng trưng của mình đã làm một cuộc công kích Thơ Mới lãng mạn: “Hãy để cho tiền nhân những cảm giác đơn nghèo. Để cho bọn đề nho cái công việc ẩn giấu nỗi lòng nhạt nhẽo của họ trong nỗi lòng chung của thiên hạ hay trong gió nước, cỏ cây. Để cho bọn đàn bà con trẻ cái công việc than khóc thảm thương trên một kỳ hoa tạ, trên một giấc mộng dở dang. Để cho những thế hệ đã nằm yên, cái tôi nông cạn ấy”. Nhưng đó chỉ là tuyên ngôn, trong thực tế sáng tác thì họ không làm được bao nhiêu). Bản tính của người Việt chúng ta vốn hiền lành, thích sự ổn định, không ưa mạo hiểm, không thích “gây sự” và ngại “đụng chạm” đến các thần tượng chăng? Hay tài năng và ý chí sáng tạo độc lập là những thứ vốn không phải bao giờ cũng sẵn có?

Một trường hợp khác, không kém phần thú vị khi bàn về những cái bóng trong văn chương, ấy là việc tác giả, dĩ nhiên là tác giả lớn, tự bước đi trong cái bóng của chính mình, thỏa mãn gặm nhấm những thành công do mình tạo ra, và thậm chí biến mình thành một thứ lực cản (theo nghĩa đen) trước những nguy cơ bị kẻ khác vượt qua. Nhưng đó sẽ là chuyện được bàn đến trong một bài viết khác.

Hoài Nam

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.