Vương Trọng "Đa thanh và phản biện"

Theo nhà thơ Vương Trọng thì tiếng Việt của chúng ta rất giàu thanh điệu, có đến 6 âm sắc (có người bảo 8), tạo nên âm điệu uyển chuyển du dương cho thơ. Ông chủ trương thơ "Đa thanh" là dựa trên điều này. Và, nhiều bài thơ trong tập thơ "Đa thanh và phản biện" đọc lên thấy điều ông nói là có lý...

Bao năm qua, mỗi lần đi công tác ở các tỉnh phía Nam, mỗi lần được bạn bè, người quen mời ăn xoài, ăn chôm chôm, hay chính bây giờ, khi nhìn những trái xoài đang chín trên cây ở nhà vườn Sóc Sơn, tôi lại nhớ đến chùm thơ về cây trái Nam Bộ của nhà thơ Vương Trọng đăng trên báo Tiền Phong cách đây mấy chục năm:

 "Quả xoài đôi má tròn căng/ Muốn ăn mà sợ dấu răng đau xoài/ Thôi cầm lấy vậy mà chơi/ Mùi thơm cũng đủ ngọt rồi cần chi" (Xoài ); "Chôm chôm như đóa mặt trời/ Khi bóc vỏ rồi, lại hóa mặt trăng/ Vào vườn ngửng mặt mà trông/ Ngỡ như vũ trụ chín cùng trái cây" (Chôm chôm).

Những câu thơ viết như chơi, ấy vậy mà tôi chỉ đọc một lần vẫn nhớ, nhớ đến thuộc lòng hơn bốn mươi năm qua. Mỗi khi nhìn thấy Xoài hay Chôm chôm, trong tôi lại ngân lên những câu thơ trên của nhà thơ Vương Trọng. Tôi cảm thấy thơ Vương Trọng dân dã mà tinh tế, thông minh, đọc kỹ lại thấm đẫm tình người, thấm đẫm tính nhân văn của một tâm hồn thi sỹ.

Có lẽ, bài thơ đầu tiên của nhà thơ Vương Trọng mà tôi thích, cũng như nhiều người thích là bài "Nằm võng" được Giải thưởng thơ Báo Văn Nghệ. Nhưng, bài thơ nổi tiếng nhất của ông theo tôi là bài "Bên mộ cụ Nguyễn Du":

Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên
 Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiền Điền nằm đây
Ngửng trời ca , cúi đất dày
 Cắn môi, tay nắm bàn tay của mình
Một vùng cồn bãi trống trênh
Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề"...

 Nghe nói nhờ bài thơ này mà người ta mới xây lại mộ, dựng tượng, làm nhà bảo tàng cho đại thi hào dân tộc Nguyễn Du?! Và nhà thơ Vương Trọng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu "Truyện Kiều", đã trở thành nhà KIỀU HỌC cũng nổi tiếng không kém gì bài thơ của ông.

Tôi đọc bài thơ này trong tuyển tập  "Thơ Việt Nam thế kỷ XX- thơ trữ tình" do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2005, mặc dầu bài thơ đã được ngâm trên đài, đăng trên nhiều tờ báo. Cũng trong chùm thơ của Vương Trọng, bài "Sợi tóc hai mầu" và bài "Hai chị em" cũng được nhiều người thích:

- Nín đi em! - Em khản giọng khóc gào
Chị mếu máo, đầm đìa nước mắt
Những bố mẹ bên bờ chia cắt
Phút giây thôi, hãy nghe tiếng con mình

                                (Hai chị em).

Thiển nghĩ, thơ là vậy, là giai điệu hồn người, đi vào hồn người, đi vào tâm tưởng, đi vào cuộc sống chớ đâu phải rao giảng điều gì cao xa!

Tôi thường ngâm ngợi câu thơ giàu tính minh triết của ông: ..."Thời gian tượng hình trước mặt/ Ta đang ta, hay ta khác ta rồi"... (Sợi tóc hai màu). Bây giờ nhà thơ Vương Trọng "... đã khác ta rồi" chăng khi tôi đọc tập thơ "Đa thanh và phản biện" ông vừa gửi tặng.

Trong bài viết in đầu tập thơ, ông cho biết "Câu lạc bộ thơ Đa thanh" mà ông đề xuất trên Facebook được nhiều bạn bè hưởng ứng và báo Tuổi trẻ đã giới thiệu một chùm thơ kèm theo lời giới thiệu về loại thơ này...

Theo nhà thơ Vương Trọng thì tiếng Việt của chúng ta rất giàu thanh điệu, có đến 6 âm sắc (có người bảo 8), tạo nên âm điệu uyển chuyển du dương cho thơ. Ông chủ trương thơ "Đa thanh" là dựa trên điều này. Và, nhiều bài thơ trong tập thơ "Đa thanh và phản biện" đọc lên thấy điều ông nói là có lý.

Thú thực, tôi vẫn chưa hiểu lắm loại thơ ĐA THANH mà nhà thơ Vương Trọng đề xuất. Dù chưa hiểu nhưng tôi luôn ủng hộ những người muốn đổi mới thơ, luôn trăn trở để có thơ hay. Tôi đọc phần ĐA THANH trong tập thơ của nhà thơ Vương Trọng và thấy phần nhiều những câu thơ tôi thích trong tập thơ này vẫn ẩn hiện sự thông minh, hóm hỉnh mà dân dã của ông: ..."Giữa quán cà phê/ mơ màng mộng ước/ có gã nhà quê/ ngồi chén ngô luộc!" (Chuyện nhỏ Ban mê ); ..."Ốc này... lưỡng lự gửi ai/ Chọn người thích vỏ... nghĩ hoài không ra" (Kỷ niệm Vũng Tàu)... Cả những câu thơ thấm đẫm triết lý nhân sinh:  "Một mai vấp phải chữ tình/ Bẽ bàng ngoảnh lại, thấy mình... trắng tay!" (Trắng tay)

Tôi quen biết nhà thơ Vương Trọng từ lâu. Có một thời Tạp chí Văn nghệ Quân đội nơi ông công tác trở thành địa chỉ quen thuộc, tin cậy của nhiều nhà văn, nhà thơ. Tôi thường đến đây và được các nhà văn, nhà thơ đàn anh thời đó như Vũ Cao, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Trọng Oánh, Triệu Bôn (các anh giờ đều đã ra đi), Anh Ngọc chỉ bảo rất thân tình.

Giải thưởng về thơ đầu tiên của tôi cũng là Giải thưởng do Tạp chí Văn nghệ Quân đội trao tặng (năm 1978). Vương Trọng là lớp đàn anh nhưng rất gần với chúng tôi, dạo tôi đang là phóng viên của Báo Tiền phong thường đến nhà anh chơi. Khi con trai tôi, cháu Dương Thái Hà mới được hơn một tuổi, bị chàm ở mặt đã được vợ nhà thơ Vương Trọng lúc đó là bác sỹ làm ở Bệnh viện Việt Xô (nay là bệnh viện Hữu nghị) cho một tuýp thuốc ngoại, tôi mang về bôi cho cháu và bệnh chàm khỏi hẳn. Khi con trai tôi tốt nghiệp đại học ở Anh trở về nước, hai bố con đến thăm gia đình nhà thơ Vương Trọng nhưng lại không gặp được. Rồi công việc bộn bề, ít có thời gian đến thăm gia đình ông, tôi chỉ có thể đọc thơ ông trên báo, rồi trên facebook...

Lâu nay, tôi vẫn quan niệm rằng thơ là thơ, việc chống tiêu cực là công việc của báo chí, nên tôi ít quan tâm đến những bài thơ thuộc thể tài này. Nhưng, khi đọc phần PHẢN BIỆN trong tập thơ mới xuất bản của nhà thơ Vương Trọng, tôi thấy ông đã thẳng thắn bày tỏ thái độ không khoan nhượng của mình trước những hiện tượng tiêu cực đã và đang tồn tại trên đất nước ta.

Không phải ngẫu nhiên khi mở đầu phần thơ PHẢN BIỆN, nhà thơ Vương Trọng đã trích câu thơ nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Nhà thơ cũng phải biết xung phong". Nếu như thời chiến tranh, Vương Trọng đã là một người lính, xung phong vào chiến trường, vào tuyến lửa, thì nay ông đang đấu tranh trực diện với cái xấu, cái ác, với sự giả dối... bằng những bài thơ trong tập thơ này. Những bài thơ như "Stop Asiad"; "Lợn ơi ta bảo lợn này"; "Nhà công vụ"; "Bánh vẽ"; "Chỉ vì cái sân gôn";  "Đáng bắt giam triệu lần"; "Văn điếu cây Hà Nội"; "Luận bình công lao"... với lời thơ sắc bén, nhà thơ đã mổ xẻ, lên án, phán xử... những mặt trái của xã hội hiện nay.

Từ những vụ việc có thực, được báo chí phanh phui, nhà thơ Vương Trọng đã như một người lính xông thẳng tới, chỉ tên, vạch mặt bằng chính những ngôn từ sắc bén nhất của thi ca ... "Đừng hát nữa mà đau/ em ơi Hà Nội phố/ Ôi thôi thôi/ Cây đã về với kiếp tro than/ Người ở lại cùng lời nức nở!" (Văn điếu cây Hà Nội ). Tôi thích những câu thơ PHẢN BIỆN như thế, những câu thơ trực diện mà nhiều day dứt tâm can người đọc...

Đọc "Cùng một tác giả" ở bìa 4 của tập thơ, tôi mới biết ông đã được Giải thưởng Nhà nước, đã xuất bản hơn 30 đầu sách, một sức làm việc thật đáng khâm phục.  Ngoài thơ tình, ông còn có nhiều tác phẩm thơ viết cho thiếu nhi, rồi trường ca, chuyện thơ, truyện ngắn, truyện dịch, viết phê bình, chân dung văn học...

Ông viết như chơi, lúc nào gặp ông cũng thấy ông vui vẻ, hóm hỉnh, hài hước như chẳng phải lo nghĩ việc gì. Đọc thơ, nhất là tập thơ mới xuất bản của ông "Đa thanh và phản biện" tôi mới hay, người thơ Vương Trọng luôn đau đáu chuyện đời, chuyện văn, chuyện thế thái nhân tình... Tôi mới hay, trách nghiệm của một nhà thơ - công dân luôn đè nặng trên vai ông.

                               Viết tại nhà vườn Sóc Sơn 10-2017

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.