Kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2015)

Vương Thúy Kiều: Ba trong một

Thúy Kiều có tài ứng tác, thơ làm ra đều được người xem khen. Lời khen của Đạm Tiên là người cùng hội, cùng thuyền, của Kim Trọng là một chàng trai đang yêu có thể không khách quan, hơi thiên vị. Nhưng lời khen của viên quan "mặt sắt đen sì" vừa ra lệnh đánh đòn Thúy Kiều thì quả thật là tấm huy chương vàng nguyên chất trao cho tài thơ của Thúy Kiều.

Trong phần đầu của "Cung oán ngâm khúc", nhà thơ Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1798) đã giới thiệu về tài năng của người cung nữ:

- Làm thơ trên tài Lý Bạch (701 - 762): "Câu cẩm tú đàn anh họ Lý".

- Vẽ giỏi hơn Vương Duy (701 - 761): "Nét đan thanh bậc chị chàng Vương".

- Chơi đàn ngang với Tư mã Tương Như (179 - 117 TCN): "Cẩm điếm nguyệt phỏng tầm Tư mã"

- Thổi địch xấp xỉ Tiêu lang (sống vào thời Xuân Thu: 722 - 481 TCN): "Địch lầu thu đường gã Tiêu lang".

Tuy nhiên trong suốt khúc ngâm những tài năng ấy không hề được thể hiện.

Vở hợp xướng ca vũ kịch truyện Kiều.
Vở hợp xướng ca vũ kịch truyện Kiều.

Mở đầu Truyện Kiều, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du (1765 - 1820), tự là Tố Như, cũng giới thiệu về tài năng của Vương Thúy Kiều:

"Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân"

Nhưng khác với Ôn như hầu, Tố Như để cho Thúy Kiều thể hiện đầy đủ tài năng đã giới thiệu ở trên.

1. Vương Thúy Kiều: Một thi sĩ xuất sắc.

Thúy Kiều có tài ứng tác, làm thơ rất nhanh:

a) Lần đầu tiên Thúy Kiều làm thơ là trước mộ Đạm Tiên:

"Rút trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần"

và liền sau đó:

"Lòng thơ lai láng bồi hồi
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi"

Khi Thúy Kiều chiêm bao gặp Đạm Tiên, được Đạm Tiên nhận xét những thi phẩm ấy là: "Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng". Tiếp sau Đạm Tiên yêu cầu Thúy Kiều sáng tác liền 10 bài:

"Này mười bài mới mới ra
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời"

lập tức:

"Kiều vâng lĩnh ý đề bài
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm"

để rồi Đạm Tiên:

"Xem thơ nức nở khen thầm
Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường
Ví đem vào tập Đoạn trường
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai".

b) Thúy Kiều cũng am hiểu hội họa nên đã khen một bức tranh do Kim Trọng vẽ là: "... nét bút càng nhìn càng tươi". Kim Trọng liền đề nghị Thúy Kiều cho "vài lời thêm hoa". Ngay tắp lự, Thúy Kiều đáp ứng:

"Tay tiên gió táp mưa sa
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu"

và Kim Trọng:

"Khen: "Tài nhả ngọc phun châu,
"Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này".

Tức là Kim Trọng đánh giá tài thơ của Thúy Kiều ngang với nàng Ban Chiêu (45 - 116) và nàng Tạ Đạo Uẩn (khoảng nửa cuối thế kỷ IV).

c) Bị viên quan "mặt sắt đen sì" khép tội, Thúy Kiều phải chịu một trận đòn

"Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày
Một sân lầm cát đã đầy
Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương".

Ngay sau đó, động lòng vì lời than khóc của Thúc Sinh, viên quan liền thử tài Thúy Kiều bằng việc yêu cầu nàng làm một bài thơ về chiếc gông: "mộc già hãy thử một thiên trình nghề". Với tài ứng tác:

"Nàng vâng cất bút tay đề
Tiên hoa trình trước án phê xem tường"

Xem thơ viên quan lập tức thay đổi thái độ:

"Khen rằng: "Giá đáng Thịnh Đường,
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân"

tức là khen thơ Thúy Kiều ngang với thơ của những nhà thơ thời Thịnh Đường (713 - 766) như: Lý Bạch (701 - 762), Thôi Hiệu (704 - 754), Đỗ Phủ (712 - 770),...

Tóm lại, Thúy Kiều có tài ứng tác, thơ làm ra đều được người xem khen. Lời khen của Đạm Tiên là người cùng hội, cùng thuyền, của Kim Trọng là một chàng trai đang yêu có thể không khách quan, hơi thiên vị. Nhưng lời khen của viên quan "mặt sắt đen sì" vừa ra lệnh đánh đòn Thúy Kiều thì quả thật là tấm huy chương vàng nguyên chất trao cho tài thơ của Thúy Kiều.

2. Vương Thúy Kiều: một nghệ sĩ tài hoa.

Tiếng đàn của Thúy Kiều nhiều lần cất lên và lần nào cũng tác động rất mạnh tới người nghe, thậm chí tới cả môi trường xung quanh.

a) Lần đầu nàng đánh đàn cho Kim Trọng, Tố Như dành nhiều câu chữ nhất:

"So dần dây vũ dây văn
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương
Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?
Kê Khang này khúc Quảng lăng
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân
Quá quan này khúc Chiêu quân
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa".

Tiếng đàn làm rung chuyển cả ánh sáng: "Ngọn đèn khi tỏ khi mờ" khiến cho Kim Trọng phải ngẩn ngơ vật vã:

"Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu
Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày"

và phải thốt ra:

"Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào"

b) Khi làm con hầu ở nhà Hoạn Thư, có lần Hoạn Thư bảo nàng đánh đàn cho nghe:

"Lĩnh lời nàng mới lựa dây
Nỉ non thánh thót dễ say lòng người
Tiểu thư xem cũng thương tài
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân".

Dù đang "ngứa ghẻ hờn ghen" Hoạn Thư cũng phải khâm phục tài đàn của nàng.

c) Để làm cho Thúy Kiều phải "đau đớn ê chề" và trừng phạt Thúc Sinh, Hoạn Thư chẳng những bắt nàng hầu rượu cho hai vợ chồng mà còn bắt nàng hầu đàn:

"Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn
Bốn dây như khóc, như than
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng
Cùng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm".

Tiếng đàn như khóc như than càng làm tan nát lòng Thúy Kiều và Thúc Sinh, càng làm Hoạn Thư cười nụ đắc ý!.

d) Sau khi Từ Hải chết, Hồ Tôn Hiến "mở tiệc hạ công", bắt Thúy Kiều hầu tiệc và hầu đàn. Tiếng đàn của Thúy Kiều cất lên:

"Một cung gió thảm mưa sầu
Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay
Ve ngâm vượn hót nào tày"

khiến cho Hồ Tôn Hiến, một viên quan tổng đốc trọng thần, không xa lạ gì với cái chết của hàng trăm, hàng nghìn người, đang vô cùng phấn khích vì đã hoàn thành việc tiễu trừ Từ Hải vẫn phải "nhăn mày rơi châu".

Tài đàn của Thúy Kiều khiến người đọc nhớ tới tài đàn của thiếu phụ trong "Tỳ bà hành" của Bạch Cư Dị (772 - 846). Tiếng đàn của tỳ bà phụ khiến cho tất cả người nghe đều khóc sướt mướt: "Mãn tọa trùng văn giai yểm khấp".

e) Sau 15 năm lưu lạc, được trở về với đại gia đình, theo yêu cầu của Kim Trọng nàng lại đánh đàn:

"Phím đàn dìu dặt tay tiên
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa
Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu rỏ duềnh quyên!
Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông!
Lọt tai nghe suốt năm cung
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao".

Tiếng đàn tạo ra không khí đầm ấm, cảm giác êm ái, tâm trạng vui vẻ.

3. Vương Thúy Kiều: Một nhạc sĩ đích thực.

Theo định nghĩa nhạc sĩ (tiếng Anh là composer, tiếng Pháp là compositeur) là người soạn nhạc. Nói cách khác chỉ những người soạn nhạc không lời mới có danh xưng là nhạc sĩ. Những người chỉ sáng tác ca khúc thì không phải là nhạc sĩ (1). Thúy Kiều là nhạc sĩ đích thực vì nàng là tác giả bản nhạc "Bạc mệnh". Nàng đã đánh chính bản nhạc này cho Hồ Tôn Hiến nghe:

"Hỏi rằng: "Này khúc ở đâu?
Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay
Thưa rằng: "Bạc mệnh" khúc này
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ
Cung cầm lựa những ngày xưa
Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây".

Với câu cuối cùng, nàng như đã kết tội Hồ Tôn Hiến, là kẻ làm cho nàng bạc mệnh vì chính Hồ Tôn Hiến đã lừa nàng, giết chồng nàng, người mà nàng vô cùng biết ơn, vô cùng kính yêu; nay lại bắt nàng hầu tiệc, hầu đàn.

Tìm hiểu tài năng của Thúy Kiều ta càng thấy Tố Như xây dựng truyện rất chặt chẽ, tất cả tài năng của Thúy Kiều đã giới thiệu đều được thể hiện đầy đủ trong truyện.

PV

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.