Vòng quay đời người

Trong cuộc sống, có những người bạn tuy ít gặp nhau, nhưng  tâm tưởng có thể yên tâm, tin cậy nhau. Với tôi, nhà thơ Phạm Đình Ân là một người như thế.

Bố quê Nam Định. Mẹ quê  Hà Nam. Tuổi thơ của anh không được yên ả. Cùng bố mẹ lưu lạc về Hưng Yên. Hai tuổi, mẹ mất. Rồi theo bố tản cư vào Thanh Hóa. Anh có mẹ kế từ năm bốn tuổi. Trong lý lịch, anh ghi quê quán cả ba tỉnh, là vậy.

Lớn lên, con đường học hành của anh lại suôn sẻ. Năm 1965, vào học Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp. Những năm ấy, được vào học Khoa Văn Tổng hợp là cả sự sang trọng. Ra trường, năm 1969, lại được về công tác ở Báo Nhân Dân. Bạn bè quý mến mà ghen tỵ, oai quá! Làm việc ở Ban Văn nghệ Báo Nhân Dân, hơn mười năm, năm 1980, anh chuyển về Báo Văn Nghệ. Từng mười ba năm làm Trưởng Ban Lý luận phê bình Báo Văn Nghệ.

Năm 2006, nhận bằng Tiến sĩ văn học. Có người bảo, con đường tiến thân của Phạm Đình Ân vô cùng thuận tiện. Người viết được về làm việc ngay cơ quan văn nghệ, thì còn gì thuận tiện hơn. Thời ấy, nhiều bạn bè viết lách tiếng tăm nổi như cồn, muốn chuyển về công tác ở cơ quan văn nghệ, nhất là Báo Văn Nghệ mà chầy vảy, có được đâu.

Việc đời của nhà thơ Phạm Đình Ân tưởng như xuôi chèo mát mái. Nhưng việc đạo - con đường chữ nghĩa của anh lại chật vật. Thơ xuất hiện sớm trên Báo Văn Nghệ từ năm 1968. Năm 1972, chùm thơ của anh in trên Tạp chí Tác Phẩm Mới, có bài "Đi dọc miền Trung" được bạn bè đánh giá cao. Nhưng gần hai mươi năm sau anh mới dám công bố tập thơ đầu tay "Nắng xối đỉnh đầu". Tập thơ mỏng, in vẻn vẹn có 26 bài. Quý anh, có người kêu lên, tên sách gì nghe mà lầm lũi, vất vả quá. Nắng xối đỉnh đầu thì chịu sao nổi? Văn chương đôi khi vận vào đời người cầm bút.

Nhà thơ Phạm Đình Ân.
Nhà thơ Phạm Đình Ân.

Cùng năm 1990 ấy, anh cho ra mắt tập thơ "Những hoàng hôn ngẫu nhiên". Rồi mười năm sau, 2000, Phạm Đình Ân lại cho ra mắt bạn đọc hai tập thơ, tập "Hương rễ" và tập "Phấn hoa bay". Năm 2013, in tập thơ "Vòng quay". Đến nay, ngoài mảng viết cho thiếu nhi đã có khá nhiều sách, Phạm Đình Ân mới xuất bản 5 tập thơ. Một người lao động sáng tạo liên tục, miệt mài, gần năm mươi năm cầm bút mà xuất bản 5 tập thơ, cũng là thể hiện tinh thần trách nhiệm, lao động nghệ thuật khắt khe của anh đối với thơ.

Tuy nhiên, Phạm Đình Ân rất tin những tác phẩm mình viết ra. Trong lúc thị trường thơ đang lạm phát, năm 2001 anh cho tái bản hai tập thơ "Nắng xối đỉnh đầu" và "Những hoàng hôn ngẫu nhiên" mà trước đó mười một năm, anh đã phát hành. Nay in lại với hình thức đàng hoàng hơn, số lượng 1.000 bản/tập. Bạn bè, có người bảo sao không in thơ mới mà lại tái bản thơ?

Hãy đọc  tập thơ sau mười một năm, để xem lại cảm xúc của tác giả.

Đây là ý nghĩ của người thanh niên ba mươi tuổi, cái tuổi "tam thập nhi lập":

Ngẩn ngơ thương mình tuổi quá ba mươi
ngổn ngang bao việc chưa làm được
buồn nhiều hơn vui, đắn đo, suy tính
sống không dễ dàng
Mặt trời đứng bong
đỉnh đầu nắng xói chan chan.

(Nắng xối đỉnh đầu)

Xem ra, sự ưu tư nhiều hơn cái tuổi còn đang độ phơi phới trước cuộc sống. Cảm xúc vẫn tươi mới, của người cả nghĩ. Ngay 4 bài thơ tình chứa chất cảm xúc riêng ở phần 2, cũng hiếm thấy cái đắm đuối, lãng đãng, ngất ngây mà vẫn nặng ưu tư. Bài thơ "Sợi tóc", một bài thơ hay. Sau chặng đường "Năm mươi năm sau/ khi tìm được về chốn cũ/ tôi gặp một bà già tóc bạc/ bà chẳng biết tôi/ tôi tặng bà sợi tóc", để rồi "bà khóc", vì "sợi tóc vẫn còn đen".

Người của hôm nay thì già nua. Kỷ niệm năm nao vẫn tươi ròng. Ai chả xót xa, chạnh lòng. Con người, chả ai chế ngự được thời gian. Chỉ có tình người thì vẫn còn sâu đậm. Và con người, tồn tại bởi những điều đó? Bài thơ "Những cái giật mình" viết về sự ám ảnh của người mình yêu. Vì yêu, ở đâu cũng thấy bóng dáng người mình yêu. Nó tạo ra những cái giật mình. Để rồi "Tôi cất đi những cái giật mình/ của một thời tôi yêu em kỳ lạ/ để đến sau này, lỡ tôi chẳng còn gì để cho em nữa/ tôi sẽ tặng em những cái giật mình".

Bài thơ "Đi dọc miền Trung" gây ấn tượng với bạn viết ngay khi nó mới xuất hiện.

Đất nước thắt lưng buộc bụng ở miền Trung
như người mẹ thương con
suốt một đời nắng mưa hậm hụi
ủ nóng tình thương bền bỉ, âm thầm.

Nhịp thơ vẫn cuốn hút, bởi lối tả thấm đẫm tấm lòng của người viết:

Dải đất hẹp khô gầy mà lại đắp bồi chỗ thiếu hụt trong tôi
đất nghèo khó cho nên giàu ý nghĩa
Tôi đi qua, khát khao điều rộng cao, mới mẻ
bồn chồn thương đất nước của tôi.

Năm 2013, nhà thơ Phạm Đình Ân xuất bản tập thơ "Vòng quay", đánh dấu bước tiến đáng kể của chặng đường lao động nghệ thuật. Tập thơ bỏ qua cách thể hiện liệt kê, kể lể. "Vòng quay" là kết quả của nhận thức. Từ những chiêm nghiệm dẫn tới cảm xúc cô đọng. Tập thơ như tổng kết nỗi niềm trĩu nặng vui buồn của một đời người.

Cái tập tục "đầu năm mua muối", ấy nhưng trong thơ Phạm Đình Ân lại ngằn ngặt sự đời.

Rắc muối vào vô cảm
Rắc muối vào vô ơn
Xót tan lòng muối xát
Hạt đổ vào vết thương.

(Đầu năm mua muối)

Thì ra, nhà thơ không chỉ nhìn nhận cái tập tục của người đời lo vun vén cho sự no đủ, lại phát hiện bao góc khuất, góc thiếu hụt của con người. Con người vốn dễ vô cảm, vô ơn. Đó là nỗi đau, là vết thương của đời sống xô bồ, thực dụng thời hiện đại.

Bài thơ về cái "Đồng hồ" không chỉ dừng về sự mô phỏng thời gian. Người đọc giật mình khi thấy bao thời gian phao phí trôi qua trong đời mình.

Trơ mặt
đều đều kêu nhạt tanh
tích
tắc.
Ngậm miệng
từ từ nuốt đứt những trăm năm.

Thế đấy, nhoáng cái, chúng ta phao phí bao nhiêu thời gian. Bài thơ "Cái ghế" vẻn vẹn hai câu, tách làm năm dòng. Nhưng dư ba lại phủ ngoài câu chữ.

Nhà công
người còn, ghế mất.                      

Nhà riêng
người mất
ghế còn.

Sự đời vốn giản dị. Chuyện còn mất chức tước - cái ghế ở cơ quan cũng giản dị thôi. Nếu bình tĩnh nhìn ra, con người thường có sự sống ngắn hơn sự sống đồ vật. Vậy khi sống, tranh giành, kèn cựa nhau để làm gì?!

Có bài thơ, bốn câu thôi, nhưng như đổi giọng điệu trong tập. Nó có gì thoáng đãng, đắm đuối. Cho dù, nó vẫn nặng ưu tư. Bài "Hoa sưa":

Trắng muốt trời sưa mưa dệt thưa
Thanh xuân đến độ tuổi đang vừa
Cứ vô tâm nõn cho mà tiếc
Mới rạng ngày ai, ta đã trưa.

Tác giả tự thán, người khác đang ban mai, mình đã buổi trưa mất rồi. Câu cuối, theo tôi là rất Phạm Đình Ân. Trong sự đời, anh luôn nhận mình là người ít may mắn, người đến muộn. Trong tập "Vòng quay", Phạm Đình Ân có hẳn một bài thơ kể về sự muộn.

Văn với người là một. Điều này càng thấy rõ trong trường hợp nhà thơ Phạm Đình Ân. Thơ anh luôn luôn nặng nỗi niềm trăn trở, tiếc nuối. Con người ngoài đời, dù người mới gặp, cũng dễ nhận ra cái nét lận đận, cần mẫn ở anh. Anh có kể với tôi rằng, trong nghiệp sáng tác, anh cũng là người ít may mắn. Một số tác phẩm của anh xứng đáng được giải thưởng. Ấy rồi lại bị tuột khỏi tầm tay. Làm Trưởng Ban Lý luận phê bình của Báo Văn nghệ mười ba năm liền, nhưng trong thời gian đó, chưa có bài viết nghiên cứu, phê bình xứng đáng nào của bạn nghề về sức lao động sáng tạo của anh.

Kể ra cũng tiếc. Nhưng tôi nghĩ, người lao động chân chính thì giải thưởng cũng chả phải quá quan trọng gì. Bao giải thưởng đình đám này nọ, rồi cũng bị trôi tuột với thời gian. Tôi tin, Phạm Đình Ân có những bài thơ mà bạn bè còn nhớ đến. Với người viết, đó là hạnh phúc lắm rồi. Thơ của anh không dễ cho người đọc một lần. Có bình tâm đọc lại, mới nhận ra vẻ đẹp chìm khuất trong câu chữ của anh.

Đời tư anh cũng nhiều lận đận. Thời trai trẻ, anh thân với vợ chồng người bạn. Người chồng chả may mất vì bệnh trọng. Anh sẵn sàng đứng ra kế nhiệm, làm người chồng mới. Nhưng số phận trớ trêu, Phạm Đình Ân vẫn muộn mằn. Trong một bài thơ viết về người cha của mình, anh giãi bày niềm khao khát "Con ngả bóng chiều, làm chẳng kịp/ Chín ba, đại thọ, bố đành đi?/ Mang theo hy vọng mầm non hẹn/ Để lại giọt sương ướt đẫm mi" (Giọt sương). Ấy rồi anh cũng có niềm vui ở nơi xa. Vợ anh cũng thật độ lượng. Họ cùng biết nén chịu nỗi niềm riêng, để cho người bạn đời mình đỡ chạnh lòng. Và biết chăm chút cho nhau. Có lẽ ân tình như thế, Phạm Đình Ân đã có bài thơ viết tặng người bạn đời với câu chữ chan chứa cảm xúc:

Ngày gần ngắn, xa ngày dài
Không gian nhón bước ra ngoài thời gian
Thẫn thờ bóng tựa lan can
Lòng theo ngoái lại níu làn gió bay
.

(Ngày ngắn ngày dài)

Tôi lại nhớ, một chiều mùa hè cách đây đã gần năm mươi năm. Ấy là khi tôi vừa đạp xe về quê cũng là lúc Phạm Đình Ân và Phạm Ngọc Luật vừa dắt xe đạp vào thăm tôi. Hai người bạn, Ân và Luật, khi ấy cùng làm việc ở Báo Nhân Dân. Ngày ấy, chúng tôi còn quá trẻ. Đọc nhau một vài bài thơ trên báo, thú nhau là đạp xe đi tìm nhau. Trong nếp nhà cổ vùng quê Từ Sơn của cha mẹ tôi bữa ấy, chúng tôi hổn hển đọc cho nhau nghe những gì mới viết. Có thể chỉ là những bài thơ dang dở. Hoặc câu thơ vụng dại. Nhưng niềm say sưa thì khôn kể. Làng quê tôi ngày ấy còn thanh bình. Thơ ca ngày ấy như đền đài. Chúng tôi cùng trao đổi, góp ý cho nhau để cùng vươn tới vòm trời thi ca cao sang, lồng lộng.

Bây giờ gặp nhau, đôi khi nhắc lại kỷ niệm những ngày đầu cùng hăm hở bước vào con đường văn chương. Tôi toan hỏi Phạm Đình Ân, rằng nếu cho trở lại thời trẻ, thì còn đam mê văn chương như ngày ấy không? Hẳn anh và tôi cùng trả lời, làm sao thay đổi niềm đam mê đầu đời được. Vì văn chương, nó như cái nghiệp, vận vào mỗi người ngay từ thời trẻ.

Tháng 4-2019

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.