Vọng cổ hài - điệu cười phương Nam

Trong điệu nhạc “Vọng cổ”, không chỉ có những bài ca mùi mẫn với những chuyện tình lâm ly bi đát làm rơi lệ biết bao người, mà giới mộ điệu có khi cười ra nước mắt với những bài vọng cổ vui tươi, thường được gọi là “Vọng cổ hài”. 

Lối rẽ độc đáo

Có tài liệu ghi, trong các bài ca cổ nhạc của đờn ca tài tử có bài ca vui theo lối Ca ra bộ với tựa Bùi Kiệm thi rớt trở về, lấy từ cốt truyện “Lục Vân Tiên”. Đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, hãng đĩa Péka và đĩa hát Pathé của Thầy Năm Tú có tuồng San Hậu, nghệ sĩ hài Tư Xe trong vai Lôi Nhược, ca bài vọng cổ giọng cà lăm (nói lắp), nhõng nhẽo rất có duyên được giới mộ điệu yêu mến.

Ngoài ra, các nghệ sĩ Tám Bằng, Hồng Châu, Hề Lập,… cũng ca vọng cổ hài trong một số tuồng cải lương được các hãng đĩa ở Sài Gòn thời bấy giờ phổ biến. Năm 1956, Hề Minh nổi tiếng với các bài Vọng cổ hà Pháp sư giải nghệ, Vợ tôi nhảy Mambô trên sân khấu Hương Mùa Thu. Thập niên 60 của thế kỷ trước, soạn giả Viễn Châu đến quán Lệ Liễu ở Thị Nghè (Sài Gòn) phát hiện nghệ sĩ Văn Hường là một giọng ca có phong cách riêng, từ hơi giọng, nhịp nhàng chuẩn mực, cho đến kỹ thuật luyến láy, phát âm nhả chữ khá điêu luyện, dày dạn kinh nghiệm, nên ông nhã ý giới thiệu nghệ sĩ Văn Hường ký hợp đồng với hãng đĩa Asia của thầy Năm Mạnh.

Sau buổi đầu tri ngộ đó, chỉ một đêm, soạn giả Viễn Châu đã viết xong bài vọng cổ hài đầu tiên với tựa đề Đêm tân hôn có nội dung diễn tả về sự hoan hỉ của đôi vợ chồng trẻ mới hợp hôn, lời ca được tác giả biên soạn rất vui nhộn, dễ thương. Ông đưa cho Văn Hường ca thử. Quả là sự ngẫu nhiên trùng phùng. Soạn giả Viễn Châu từ nào giờ chưa từng viết, Văn Hường cũng chưa từng ca vọng cổ hài, vậy mà cả hai đã kết hợp thành công mãn thính. Với giọng ca đặc biệt, cách xuống vọng cổ với chữ “ự, ự…” thay cho chữ “ơ, ơ…” trước khi xuống hò câu vọng cổ, Văn Hường được khán - thính giả nhiệt liệt hoan nghênh với sáng tác hài đầu tay của soạn giả Viễn Châu.

Bài Đêm tân hôn như một pháo hiệu đầu tiên cho trường phái này. Sau đó, soạn giả Viễn Châu và nghệ sĩ Văn Hường liên tiếp ghi dấu ấn vang dội ở lĩnh vực “vọng cổ hài” với một số bài ca như: Tư Ếch đi Sài Gòn, Văn Hường đại chiến với Tư Ếch, Ba râu đi Chợ Lớn, Tôi đi làm rể, Tôi đi hớt tóc, Tôi làm thầy bói, Tư Ếch đại chiến Văn Hường, Tư Ếch coi cải lương, Tư Ếch coi Hội chợ, Ông Địa núi Tà Lơn, Ông Trượng - Tiên Bửu, Năm con vợ, Vợ tui tui sợ… mà cho đến nay vẫn được người mộ điệu nhắc đến.

Nếu như soạn giả - Nghệ sĩ nhân dân Viễn Châu được báo giới và công chúng phong tặng cho danh hiệu là “ông vua vọng cổ” vì ông biên soạn trên 2.000 bài ca vọng ở các thể loại thì nghệ sĩ Văn Hường được tấn phong là “Vua vọng cổ hài” được giới mộ điệu đặt cho biệt danh là “Tư Ếch”nhờ thể hiện xuất sắc bài vọng cổ hài “Tư Ếch đi Sài Gòn” của soạn giả Viễn Châu.

Gây cười không dễ

Trên sân khấu cải lương, các đào kép chánh thường là những đào kép mùi, thủ những vai bất hạnh bi thương để lấy nước mắt và sự cảm thông của khán giả. Bên cạnh chất mùi mẫn, sân khấu cải lương cần có chất hài làm sôi động sân khấu để phá tan cái ngột ngạt của những tình tiết lâm ly bi đát, nhằm mang lại tiếng cười cho khán giả.

Soạn giả Viễn Châu và danh ca Hề Sa.
Soạn giả Viễn Châu và danh ca Hề Sa.

Vai trò của kép hài rất quan trọng, đòi hỏi phải biết diễn xuất và phải biết ca các bài bản cải lương. Những nghệ sĩ hài nổi danh ở thể loại này có thể kể đến các nghệ sĩ như: Quái Kiệt Ba Vân, Hề Tư Xe, Hề Lập, Hề Tám Cũi, Hề Tư Rọm, Hề Kim Quang, Hề Minh, Hề Quới, Hề Vui, Hề Văn Chung, Trường Xuân, Giang Châu, Bảo Quốc… Vào thời vàng son của cải lương, tiếng tăm và tiền cát xê của một số nghệ sĩ hài cải lương không thua kém gì đào kép chánh. Cũng có khi khán giả mua vé đến xem một đoàn hát không phải vì yêu mến cặp đào kép chánh, mà là vì ái mộ danh hài của đoàn.

Bài vọng cổ cũng cần có những giọng ca hài. Làm hề cải lương thì tập trung vào diễn, còn ca chỉ là phần hỗ trợ cho vai diễn mà thôi. Đối với ca vọng cổ hài, nghệ sĩ tập trung vào yếu tố ca là chính. Nghệ sĩ ca vọng cổ hài đòi hỏi phải có bản lĩnh ca vọng cổ thật chắc nhịp, cùng với kỹ thuật luyến láy, nhả chữ và phong cách thể hiện bài ca sao cho tạo được dấu ấn riêng biệt.

Hài là một thể tài trên nhiều loại hình nghệ thuật, thể cách tình huống khá đa dạng và nội dung bao chứa rất phong phú. Đặc điểm nổi bật của hài là gây cười bằng thủ pháp nghệ thuật trào lộng. Nhưng ca từ có thể cách hài, mà giọng ca không có tố chất hài, hay dàn nhạc đệm rời rạc, thì tổng thể tác phẩm sẽ không tạo được tiếng cười và ngược lại.

Bài vọng cổ hài phải là một chỉnh thể, gồm các mối quan hệ của những tố chất hài trực tiếp liên kết với nhau, đó là văn chương, thanh giọng, tiết tấu và nhạc đệm. Ca từ hài phải thuộc loại văn chương biền ngẫu hay văn vần, có hệ thống móc xích về mặt ngữ âm, vần điệu. Nếu ca từ gút mắc không suôn theo vần điệu thì người ca sẽ bị cưỡng âm, gây khó khăn cho việc diễn đạt cái hài trong mọi tình huống.

Một thách thức lớn cho sự sáng tạo

Viết vọng cổ không quá khó, nhưng viết vọng cổ hài thì cực khó. Ngoài việc cần giữ đúng lề lối, căn bản, khuôn phép vọng cổ, để viết vọng cổ hài là người viết phải có cái nhìn sự việc thật thấu đáo và biết sử dụng ngôn ngữ hài hước. Nghĩa là người viết phải nhìn ra được khía cạnh có thể châm biếm, chọc cười người nghe, những hủ tục cần đả phá và phải dùng lời văn châm biếm nhẹ nhàng, duyên dáng, gây cười, khiến cho người nghe dù là kẻ bị châm biếm cũng không phật lòng, còn công chúng thì tán thành lối châm biếm đó vì tác giả đã nói thay lời của họ.

 Vọng cổ hài thường là đã phá thói hư tật xấu hay những hủ tục trong xã hội. Nó đưa được đời sống thường nhật lên sân khấu, để người nghe cảm nhận được điều phản ánh trong bài ca cũng thật sự tồn tại đâu đó, hoặc đã là tồn tại ở chính bản thân người nghe. Để rồi, mỗi người tự ý thức mà sửa chữa lỗi lầm bản thân hoặc giúp người khác sửa chữa, nhằm giúp cho con người được hoàn thiện hơn, xã hội được tốt đẹp hơn, đúng với tinh thần chung của cải lương Nam Bộ. Sự châm biếm phải thật nhẹ nhàng và tế nhị. Lời văn phải được chọn lựa kỹ càng, phải dí dỏm và phải được đặt đúng nơi, đúng chỗ.

Nghệ sĩ hài khi thể hiện phải thật sự có năng lực ca vọng cổ, tức phải có chất giọng tốt, phải có bộ nhịp thật vững vàng để có thế “tung hoành” trong bài ca một cách thật dí dỏm, nhằm gây tiếng cười cho khán giả, đòi hỏi phải có sự tập luyện bài bản và kiên trì để có được một lối ca điêu luyện.

Từ trước đến nay, những bài ca viết về những trái khoáy trong xã hội, từ chuyện vợ chồng, chuyện mê tín dị đoan, những chuyện lường gạt mất tín nghĩa, những suy thoái trong cuộc sống vi phạm đến đạo đức cổ truyền của dân tộc đều được đưa vào nội dung bài vọng cổ hài để nhắc nhở nhau qua rất nhiều giọng ca của các nghệ sĩ tài danh như: Văn Hường, Hề Minh, Văn Chung, Hề Sa, Hề Qưới, Hề Giang Tâm, Hề Vũ Đức, Hề Thanh Nam… Tất cả các danh hề đó mỗi người một sắc thái, một giọng ca dễ thương đem niềm vui đến cho khán, thính giả qua lối ca hài hước, góp phần không nhỏ trong việc điểm tô sắc màu cho cuộc sống.

Có lẽ từ xưa đến nay, giới thưởng ngoạn âm nhạc tài tử và cải lương chắc hẳn không thể nào quên điệu cổ nhạc độc đáo này. Vọng cổ hài đã góp phần tạo thêm sự phong phú cho các làn điệu của đờn ca tài tử và nghệ thuật cải lương, cũng như giới thiệu cho công chúng rất nhiều tác giả chuyên biên soạn vọng cổ hài và nhiều giọng ca hài được nhiều người yêu mến. Chắc chắn vọng cổ hài sẽ có sức sống bền bỉ, là món ăn tinh thần không thể thiếu, vẫn mãi là điệu cổ nhạc Nam Bộ được ưa chuộng.

Soạn giả - NSND Viễn Châu - cha đẻ "Vọng cổ hài".

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.