Vời vợi sông Kỳ Cùng

Lạng Sơn vào mùa mận cơm. Quanh chợ Kỳ Lừa buổi sáng người ta bán hoa quả đầy đường. Tôi đi trong tiếng chào mời ngọt lịm của các cô gái Nùng. Tinh mơ nắng nhưng vẫn quấn quýt sương mây lan quanh chợ. Tôi nghe nói xưa sông Kỳ Cùng còn lan đến sát chợ, thuyền bè chở hàng đến vui như trẩy hội.

Bố tôi kể mỗi lần đến chợ, bạn bè ông đều uống rượu Mẫu Sơn. Khi say ai nấy cứ nhìn thấy nhau là cười tít mắt.Mối tình oan trái nơi thượng nguồn

Dần dần sông Kỳ Cùng đã được chỉnh dòng theo quy hoạch thành phố và giao thông lên biên giới. Dân gian truyền lại với câu ca dao kinh điển mà ai cũng thuộc mỗi khi lên xứ Lạng. Gói trong bốn câu kể rằng: "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/ Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh/ Ai lên xứ Lạng cùng anh/ Bõ công bác mẹ sinh thành ra em". Nhưng họ đã buông mất con sông Kỳ Cùng? Bởi chính con sông này đã làm nên gương mặt thành phố Lạng Sơn. Hai bên bờ sông tại nơi giao kết con đường lên biên ải là những con phố mọc lên. 

Thương hồ từ khắp nơi tới giao thương đều nhờ con sông. Một không gian văn hóa giàu bản sắc dân tộc Tày và Nùng được hình thành từ dòng nước Kỳ Cùng. Hàng trăm năm qua biết bao thăng trầm của đất nước cũng đều diễn ra trên con sông cửa ngõ phía Bắc dài 253 cây số này. Có thể nói, tỉnh Lạng Sơn là tuyến đầu bao lần chống quân xâm lăng. Con sông Kỳ Cùng cũng thật kỳ lạ. Nó bắt nguồn từ dẫy Mẫu Sơn (vùng núi Bắc Xa) với bao câu chuyện cổ tích trên đỉnh cao hơn 1.500 mét.

Lễ hội bên chợ Kỳ Lừa.
Lễ hội bên chợ Kỳ Lừa.

Người dân xứ Lạng không thể quên bi tình sử trên núi Mẫu Sơn được truyền lại bao mùa xuân qua. Chuyện kể rằng xưa… thật là xưa... Trên núi có một gia đình trong những gia đình sinh sống rất hạnh phúc. Đôi vợ chồng ấy có những đứa con rất xinh đẹp. Người chồng thì vạm vỡ chịu khó làm ăn nuôi đàn con nhỏ. Người vợ hiền lành, xinh đẹp, dịu dàng, siêng năng việc nhà, suốt ngày thêu thùa khâu vá, chăm lo cho chồng con. Có lần người chồng còn đánh cả cọp beo, hổ đói cứu giúp dân bản thoát nạn, ai nấy đều rất yêu thương đôi vợ chồng trẻ. Nhưng bất ngờ người chồng bị gọi đi lính vì giặc giã xâm lược bờ cõi. Chàng lên đường chiến đấu gửi lại vợ con cho xóm làng dân bản. Tin tức của người chồng cũng biền biệt từ đó.

Ai dè một chủ đất giầu có và đầy thế lực trong bản muốn tán tỉnh cô vợ xinh đẹp. Hắn tìm mọi cách để chiếm đoạt nàng. Nhưng người vợ đã một mực từ chối thủ tiết chờ chồng. Tên này hậm hực nuốt hận chờ dịp trả thù. Ngày đêm hắn rình rập dõi theo từng bước chân của nàng. Đến một hôm người chồng đánh giặc chiến thắng trở về. Bà con xóm làng hân hoan chào đón. Gia đình đoàn tụ, vợ chồng cha con mừng mừng tủi tủi. 

Nhưng ngay trong hôm đó tên chủ đất cho người đến kể với người chồng về chuyện ngoại tình của vợ mình. Hắn nói cô ta đã ăn ngủ với một người làm ăn buôn bán tên là Chóp Chài. Nghe vậy người chồng ghen tuông giận dữ. Anh ta uống rất nhiều rượu trở nên loạn thần mất trí. 

Cô vợ giải thích nhiều lần rằng, Chóp Chài chỉ ngủ nhờ lại ở dưới bếp vì nhỡ đường mưa gió và hổ báo rập rình đêm hôm, rạng sáng hôm sau Chóp Chài xuống núi từ rất sớm. Mọi người trong bản ai cũng đều biết chuyện này. Nhưng cả ghen mù quáng người chồng không tin và đánh đập vợ rất tàn nhẫn. Người vợ đã thề độc và nguyện lấy cái chết để tỏ lòng chung thủy. Không ngờ ra đòn quá tay người chồng đã đánh chết vợ yêu của mình.

Chợ Kỳ Lừa mới.
Chợ Kỳ Lừa mới.

Khi hồi tỉnh mọi sự đã muộn. Anh chồng chợt nhớ ra dấu vạch mà mình đã kín đáo vẽ dưới bụng vợ. Kiểm tra lại tất cả vẫn còn nguyên, anh ta ôm mặt kêu trời và khóc lóc thảm thiết suốt ba năm liền. Anh đã xây miếu cầu vợ mình tha tội. Oan hồn người vợ bay lên trời mong Ngọc Hoàng giải thoát cho tội lỗi của chồng mình. 

Ngọc Hoàng đã cho bầy tiên nữ xuống hóa giải mọi điều. Nhưng người chồng một mực khóc than và muốn lấy cái chết để đi theo tạ lỗi với vợ. Anh chỉ mong sao sau khi chết cả nhà được đoàn tụ cùng con cháu, gia đình lại hạnh phúc như ban đầu. Anh ta đã khóc cho đến khi kiệt sức và chết trong sầu đau. 

Nguyện vọng của người chồng đã được đền đáp. Ngọc Hoàng đã biến cả nhà họ trở thành dẫy núi gồm 80 ngọn điệp trùng liền tiếp bên nhau. Núi cao nhất là núi chồng (Cha), đỉnh cao thứ hai núi Mẹ, số còn lại là những núi con cháu nhấp nhô đầy đàn đầy dống. Tất cả dẫy núi đó cùng suối thác tạo nguồn nước làm nên con sông Kỳ Cùng bao đời nay.

Chợ Kỳ Lừa bên sông Kỳ Cùng

Chuyện về chợ do bản ghi chép tay của người Nùng kể lại. Nhà văn Nguyễn Thị Mai (Hội Văn nghệ Lạng Sơn) nói cho tôi biết chợ Kỳ Lừa được hình thành khá sớm trên sông Kỳ Cùng. Mọi người đã phạt một đồi cỏ chăn nuôi đàn lừa để dựng chợ. Đồi cỏ này còn có tên là Đồi Lừa. Họ chuyển đàn lừa sang ăn cỏ đồi xa. Khu chợ đã hình thành bên nhánh sông. Hàng hóa đã theo con nước được chuyển lên chợ. Vào mùa cạn họ lại dùng lừa hay ngựa chở hàng vào chợ từ trên các đèo cao. Chợ còn dành chỗ riêng để buộc lừa và ngựa.

Nhưng rồi có chuyện đã xảy ra. Hồi đó ngài Tổng trấn Lạng Sơn cũng có nuôi hai con lừa, chúng lại rất tinh khôn. Trước kia sang đồi ăn cỏ no nê là chúng lại bơi qua sông Kỳ Cùng tìm đường về nhà. Sau khi Đồi Lừa thành chợ thì những con lừa đều sang đồi mới để ăn cỏ non. Không ngờ chiều hôm ấy không thấy hai con lừa về nhà ngài Tổng trấn sai người đi tìm. Ai nấy trong chợ cùng bỏ công kiếm tìm, nhưng do con nước khá to có thể chúng bị chết đuối chăng. 

Mọi người lên thuyền đi suôi dòng Kỳ Cùng để thăm dò tin tức nhưng bặt vô âm tín. Tất cả quay về chợ trong lòng buồn thiu. Họ quý trọng ngài Tổng trấn bao nhiêu lại càng thương hai con lừa bấy nhiêu. Hai con lừa tinh khôn và chung thủy với chủ, chúng chở hàng rất khỏe và dễ thương. Phải nói đó là hai con lừa kỳ lạ nhất vùng. Dân thương hồ ngày đó mới nghĩ đến đặt tên cho chợ là Kỳ Lừa để nhớ đến hai con lừa tinh khôn này. Cái tên Kỳ Lừa phù hợp với con sông Kỳ Cùng là vì thế.

Điều thú vị nhất là mỗi phiên chợ xưa đều là phiên chợ tình diễn ra. Một bên là trao đổi hàng hóa hay mặc cả tiền nong. Còn một phía bên hông chợ là các chàng trai cô gái xòe ô hát Sli trao duyên. Lắm khi các bạn trẻ hát ngay trên thuyền chở hàng. Họ coi đây là những ngày đi chơi chợ (tiếng Nùng là Pây Lin Háng). Người dân tộc Tày còn nói là đi mừng chợ. Ngày đó chỉ trao đổi hàng hóa là chính. Không mấy người tính đếm bằng tiền xu. Có người sáng sớm mang đi con lợn mán vào chợ đổi lấy một mảnh vải về cho vợ. Thế là xong, còn lại thời gian anh ta đi chơi chợ hoặc tham gia hát Sli cho đến tàn phiên mới về. 

Nhà văn Nguyễn Thị Mai nói đến chợ ai cũng kêu: "Hôm nay đi chợ chẳng thấy có gì, chỉ thấy Đông Tây mây slao". Nghĩa là chỉ thấy trai gái đông chật đường kín chợ, chẳng ai biết tình lỗ lãi như bây giờ. Chị nhớ nhà thơ Ninh Tốn đã từng viết: "Bốn bề nước biếc non xanh/ Kỳ Lừa đẹp nhất nơi danh thắng này/ Văn thư xe ngựa đưa tay/ Cửa nhà tiếp nối hàng bày lụa tơ".

Ký ức 500 năm

Chúng tôi dừng chân bên cầu sông Kỳ Cùng. Dòng sông cuồn cuồn trôi về xa. Lời dặn của Phi Khanh với Nguyễn Trãi ngày nào bất ngờ vang lên. Hai người chia tay bên sông Kỳ Cùng trước khi đoàn tù binh lên Mục Nam Quan. Phi Khanh bị giặc Minh bắt đi. Ông truyền lại con trai Nguyễn Trãi một khí phách kiên cường khi nói: "Con xem cha như đã khuất núi lâu rồi. Hãy về đi và hãy thề Tổ quốc là trên hết". Đó chính là hoài bão và khát vọng lớn lao của dân tộc ta bao đời nay. "Tổ quốc là trên hết" trở thành hiệu triệu từ trái tim và tâm hồn Nguyễn Trãi. 

Sau cuộc chia tay đó Nguyễn Trãi đã cùng vua Lê Lợi đánh tan giặc Minh trong trận thành Xương Giang quyết tử. Tổ quốc được độc lập (1428). Những ký ức của thuở "Bình Ngô đại cáo" luôn vang sau cuộc chia tay đầy bi tráng của hai cha con Nguyễn Trãi bên sông Kỳ Cùng.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.