"Vợ chồng A Phủ" và duyên nợ Tô Hoài – Mai Lộc

Truyện và phim "Vợ chồng A Phủ" đã trở thành tác phẩm kinh điển trong đời sống văn hoá tinh thần dân tộc hơn nửa thế kỷ qua, thể hiện bức tranh hiện thực sinh động của đồng bào vùng cao Tây Bắc từ bóng đêm nô lệ bước ra ánh sáng. Tuy nhiên, ít ai biết rằng đó là mối lương duyên đẹp và kỳ lạ giữa hai tâm hồn, tài năng lớn từ hai miền Bắc - Nam vừa mới hội ngộ là nhà văn Tô Hoài và đạo diễn Mai Lộc...

Chuyện người đẹp bí ẩn ở Trạm Tấu

Cách đây tròn 60 năm, vào một buổi chiều đẹp trời cuối năm 1959, bên nhà Thuỷ Tạ ven hồ Hoàn Kiếm, nhà văn Tô Hoài đã ký tặng tập "Truyện Tây Bắc" cho đạo diễn Mai Lộc. Đêm hôm đó, ông thức trắng để đọc và rất thích thú với truyện "Vợ chồng A Phủ". Có điều gì đó thức dậy trong lòng người từ phương Nam mới tập kết ra Bắc!

Đạo diễn Mai Lộc kể với chúng tôi rằng, khi trời vừa tờ mờ sáng, ông vội đến ngay nhà Tô Hoài và hỏi: "Có phải cô Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ" là người đàn bà Mông ở Trạm Tấu không?". Tô Hoài mỉm cười gật đầu với ánh mắt cảm động. Từ thẳm sâu ký ức của Mai Lộc hiện lên chuỗi hình ảnh về người đàn bà Mông ngồi trước bếp lửa mà ông tình cờ gặp khi đi quay bộ phim "Chiến thắng Tây Bắc". Trong cơn xúc động, Mai Lộc nói với Tô Hoài: "Tôi sẽ làm phim "Vợ chồng A Phủ" và đề nghị nhà văn chuyển thể kịch bản.

Ngược dòng thời gian, vào thu đông năm 1951 -1952, đạo diễn Mai Lộc vác máy quay phim theo chân bộ đội Sư đoàn 308 đi Chiến dịch Tây Bắc. Qua cánh đồng thung lũng Nghĩa Lộ, họ vượt hơn 30km nữa lên Trạm Tấu, một vùng rất cao của người Mông sinh sống nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái. Gặp lúc người Mông đang ăn Tết cổ truyền, họ chia vui cùng đồng bào. Hoa đào bản Mông rất đẹp. Mây trắng ngày đêm bao phủ núi đồi. Lạnh buốt. Mai Lộc được bố trí ở nhà ông Chủ tịch xã Trạm Tấu.

Cố nhà văn Tô Hoài và cố đạo diễn Mai Lộc.
Cố nhà văn Tô Hoài và cố đạo diễn Mai Lộc.

Đêm đầu ở vùng cao lạ chỗ Mai Lộc không ngủ được. Đang trăn trở, ông chợt thấy một cô gái Mông còn rất trẻ ngồi ở cửa lò bếp sưởi. Ánh lửa hắt lên khuôn mặt hồng hào xinh đẹp của cô càng làm ông chú ý. Cô ngồi im lặng suốt đêm nhìn ánh lửa tí tách. Lửa tàn cô lại châm thêm củi. Đêm sau và đêm sau nữa cũng vậy. Cô gái Mông xinh đẹp vẫn ngồi thâu đêm bên ánh lửa. Mai Lộc vô cùng ngạc nhiên. Ông bèn hỏi khéo vị Chủ tịch xã Trạm Tấu và được biết cô gái đến… xin ly dị chồng!

Điều làm đạo diễn Mai Lộc bất ngờ nữa là nhà văn Tô Hoài cũng có mặt trong thời điểm ấy ở Trạm Tấu và chứng kiến sự việc ấy của cô gái trẻ người Mông. Theo tâm sự của Tô Hoài, bấy giờ ông đi thực tế viết cho Báo Cứu Quốc. Sau khi rời Trạm Tấu ông còn sang Phù Yên, nay là Bắc Yên thuộc tỉnh Sơn La, gặp vợ chồng người Mông đi ăn Tết cổ truyền.

Từ câu chuyện thực của họ phối hợp với những câu chuyện khác đã giúp nhà văn viết nên truyện "Vợ chồng A Phủ" đặc sắc vào năm 1952, trở thành một trong những tác phẩm văn học hay nhất viết về Tây Bắc và tiêu biểu cho đời văn Tô Hoài. Tất nhiên, khi viết truyện, nhà văn có hư cấu, sáng tạo thêm cho sinh động, hấp dẫn nhưng vẫn phù hợp với văn cảnh và đời sống đồng bào vùng cao với những thân phận khổ đau bị ràng buộc bởi hủ tục và sự áp bức của chế độ thực dân phong kiến, cùng khát vọng tự do thoát ra khỏi bóng tối vây phủ cuộc đời họ, có giá trị cao về nghệ thuật lẫn tư tưởng nhân văn!

Một bộ phim kinh điển của êkíp tài năng và tâm huyết

Vào cuối năm 1959, nhà văn Tô Hoài chuyển thể xong kịch bản phim "Vợ chồng A Phủ", lấy nguyên cốt truyện với đầy đủ nhân vật, chỉ lược bỏ một số chi tiết không phù hợp với điện ảnh. Sau khi kịch bản được lãnh đạo ngành văn hoá mà trực tiếp là nhà thơ Tố Hữu duyệt, đạo diễn Mai Lộc được quyền chọn thành phần chủ yếu cho tổ làm phim.

Người bạn thân Khương Mễ quay phim chính. Thiết kế mỹ thuật là hoạ sĩ Ngọc Linh. Âm nhạc là nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Chủ nhiệm phim là Trịnh Huệ. Đạo diễn Mai Lộc cũng chọn nữ diễn viên Đức Hoàn đóng vai chính là cô Mị, còn nghệ sĩ Trần Phương vào vai A Phủ.

Đạo diễn Mai Lộc và hoạ sĩ Ngọc Linh đi tiền trạm lên Tây Bắc để tìm cảnh và bổ sung kiến thức về phong tục tập quán người Mông. Đến tháng 1-1960, Mai Lộc lại lên Tây Bắc lần thứ hai, đưa các diễn viên đi thâm nhập thực tế. Tuy nhiên, khi quay phim "Vợ chồng A Phủ" thì bối cảnh thật không phải ở Tây Bắc mà dựng cảnh ở Ba Vì, Hà Tây. Đạo diễn Mai Lộc cho biết: "Hơn một tháng tham quan và nghiên cứu kịch bản, chúng tôi quyết định xây dựng ngoại cảnh tại mỏm 400 núi Ba Vì để tiện đi về Hà Nội. Khi xây dựng xong ngoại cảnh, nhà văn Nguyễn Tuân có lên chơi, tỏ vẻ rất thích thú. Anh nói rằng sẽ viết về cái bản Mông này"!

Bộ phim "Vợ chồng A Phủ" được hoàn thành vào năm 1961 và được trao giải thưởng Bông sen bạc trong Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ 2 năm 1973. Có thể nói, bộ phim này là  cuộc hôn phối đẹp đẽ giữa văn học và điện ảnh, đặt dấu mốc lịch sử cho điện ảnh cách mạng Việt Nam.

Và đây cũng là sự phối hợp tuyệt vời giữa hai văn nghệ sĩ tài năng là nhà văn Tô Hoài với đạo diễn Mai Lộc cùng êkíp làm phim để tạo dựng nên một tác phẩm điện ảnh kinh điển, dù có một số chi tiết trong phim khác với truyện. Cùng với những bộ phim như "Chị Dậu", "Số đỏ", "Làng Vũ Đại ngày ấy", "Đất nước đứng lên", "Chị Tư Hậu", "Cánh đồng hoang", "Mùa gió chướng", "Đất phương Nam",… "Vợ chồng A Phủ" là một trong những bộ phim chuyển thể kịch bản văn học xuất sắc của nền điện ảnh hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.

Hai nhân vật chính trong truyện phim "Vợ chồng A Phủ" là chàng A Phủ và nàng Mị. Xuất thân nghèo khó, họ chìm trong bóng tối khổ đau dưới ách kìm kẹp của thống lý Pá Tra. Đây là một chúa đất gian ác câu kết với thực dân Pháp áp bức bóc lột dân nghèo tận xương tuỷ. Thống lý Pá Tra bắt nàng Mị về làm vợ lẽ cho con trai là A Sử, còn chàng A Phủ thì bị bắt ở đợ suốt đời để trả nợ.

Bản năng và cảnh ngộ đưa A Phủ và Mị đến với nhau. Vì để mất trâu nên A Phủ bị Pá Tra cho bắt trói, bỏ đói, tra tấn gần chết. Mị liều cắt dây giải thoát A Phủ và cùng trốn đến Phiềng Sa sinh sống. Tình yêu nảy nở, họ nên vợ nên chồng. Đảng Cộng sản xuất hiện lãnh đạo đồng bào vùng cao, vợ chồng A Phủ và Mỵ được giác ngộ, cùng bà con đứng lên đấu tranh giải phóng mình và xây dựng cuộc sống mới tự do, hạnh phúc!

Cảnh trong phim “Vợ chồng A Phủ”.
Cảnh trong phim “Vợ chồng A Phủ”.

Đức Hoàn vào vai Mị, Trần Phương thủ vai A Phủ đều là những vai diễn đầu tiên và thể hiện xuất sắc của hai nghệ sĩ tài năng, có ngoại hình đẹp mà về sau còn thành công trong vai trò biên kịch, đạo diễn. Dưới sự đạo diễn của Mai Lộc, họ cùng một số diễn viên khác của phim "Vợ chồng A Phủ" đã trải qua ba tháng trên miền núi cao, sống cùng gia đình Anh hùng quân đội Sùng Phai Sình, học tập cách ăn ngô, gùi nước, làm rẫy, chăn bò, cưỡi ngựa, đi bộ nhiều cây số của người Mông ở Tà Sùa. Và họ còn học nói được tiếng Mông như bà con đồng bào thực thụ.

Đạo diễn Mai Lộc cũng không quên vai trò trợ lý đạo diễn của Hoàng Thái, những góc quay sinh động và hình ảnh đẹp miền Tây Bắc do người bạn thân Khương Mễ phụ trách. Và ông cũng luôn nhớ tới nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương cùng giọng hát của ca sĩ Kiều Hưng đưa bản nhạc phim "Bài ca trên núi" vang xa, góp phần quan trọng vào thành công vang dội của bộ phim "Vợ chồng A Phủ".

Đạo diễn Mai Lộc sinh năm 1923 tại Đà Lạt và mất năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh. Mai Lộc cùng Khương Mễ được xem là những người khai sáng điện ảnh Nam Bộ từ thời kháng chiến chống Pháp với bộ phim tài liệu "Chiến trận Mộc Hoá" (1947). Sau năm 1954, ngoài thành công với "Vợ chồng A Phủ", ông còn là tác giả một số bộ phim nổi tiếng khác: "Chiến thắng Tây Bắc" (Giải thưởng Bông sen vàng Liên hoan Phim Việt Nam), "Giữ làng giữ nước" (Bông sen vàng), "Quyết chiến thắng giặc Mỹ xâm lược" (Giải vàng Liên hoan Phim Lepzig, Đức)…
Phan Phú Yên

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.