Vinh quang và vấp ngã

Hồng Sơn vĩnh biệt công chúng ái mộ từ năm 2011, đến nay đã gần 10 năm nhưng dường như người ta có cảm giác anh vẫn còn trên đời, chỉ do bận việc gì đó mà tạm dừng việc đóng phim ít lâu. Đó là do anh đã chiếm được trọn vẹn sự yêu quý của khán giả từ những vai diễn, từ tính cách chân thành, hiền hậu, hoà đồng và nhiệt tình với bè bạn.

Đó là NSƯT Hồng Sơn – một gương mặt đặc sắc của sân khấu và điện ảnh Việt Nam. Ở tuổi 54, anh sớm rời “cõi tạm” ra đi nhưng vẫn kịp để lại cho công chúng nhiều vai diễn độc đáo trong các vở kịch: “Tôi và chúng ta”, “Thung lũng tình yêu”, “Cỏ dại”... và nhiều bộ phim truyện nhựa cũng như truyền hình: “Người đàn bà nghịch cát”, “Cỏ lau”, “Cây bạch đàn vô danh”, “Người Hà Nội”, “Gió làng Kình”, “Cỏ lông chông”, “Chủ tịch tỉnh”, “Dòng sông phẳng lặng”, “Ngôi nhà có nhiều cửa sổ”... Đặc biệt là phim “Ma làng”, chỉ sau khi chiếu vài tập, khán giả truyền hình đã gọi anh là Dỏ - tên nhân vật anh sắm trong phim.

Hồng Sơn vĩnh biệt công chúng ái mộ từ năm 2011, đến nay đã gần 10 năm nhưng dường như người ta có cảm giác anh vẫn còn trên đời, chỉ do bận việc gì đó mà tạm dừng việc đóng phim ít lâu. Đó là do anh đã chiếm được trọn vẹn sự yêu quý của khán giả từ những vai diễn, từ tính cách chân thành, hiền hậu, hoà đồng và nhiệt tình với bè bạn.

Cố NSƯT Hồng Sơn.
Cố NSƯT Hồng Sơn.

Người ta càng đặc biệt cảm thông, thương anh hơn khi anh có một cuộc đời không dài nhưng đầy chìm nổi, lận đận, từng có những giây phút tột đỉnh vinh quang và hạnh phúc, rồi cuối đời lâm cảnh bệnh tật và cô đơn để những ngày cuối cùng chỉ có một mình trong căn nhà ở thuê chật hẹp, hoang lạnh mãi tận bên Bồ Đề (Gia Lâm).

Một lần, sau khi đi ăn uống cùng bạn bè về nơi trọ trên, anh bị đột quỵ, nằm bất tỉnh trên sàn nhà trong nhiều giờ, không ai biết. Đến khi có người hàng xóm phát hiện ra, mới phá cửa để vào. Hồng Sơn được đưa ngay vào bệnh viện. Nhưng đã không kịp! Các bác sỹ đã hết mình với người diễn viên họ yêu quý, nhưng đã không thể cứu sống do anh bị tràn dịch màng não quá nặng và anh đã qua đời khi mới ở tuổi 54 – cái tuổi vẫn còn nhiều sức sáng tạo và hứa hẹn thành tựu ở phía trước.

Hồng Sơn sinh ngày 18/6/1957, quê ở Giao Thuỷ, Nam Định. Anh từng trốn nhà để lên Hà Nội xin thi vào Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh và đỗ. Tại đây, chàng thanh niên “nhà quê” nhưng đẹp trai, có đôi mắt và gương mặt rất điện ảnh đã nhanh chóng lọt mắt xanh cô bạn cùng lớp tên Thu Hương. Họ yêu nhau, sau khi ra trường cùng được nhận về Đoàn Kịch nói Hà Nội làm việc.

Rồi đôi uyên ương cưới nhau, về trong một mái ấm. Đó là những ngày hạnh phúc nhất của Hồng Sơn. Tình yêu và công việc đều thăng hoa. Mới về đoàn kịch nhưng anh đã được các đạo diễn tin tưởng, trao nhiều vai có đất diễn. Bắt đầu được biết đến nhưng lương diễn viên mới ra trường không đủ sống, vợ chồng Hồng Sơn tính chuyện kinh doanh. Và họ đã phất lên nhanh chóng nhờ tài xoay xoả của người vợ. Cặp vợ chồng diễn viên trở thành một đại gia giàu có với 4 ngôi nhà đáng giá ở phố cổ và một quán bar ở phố Nguyễn Đình Chiểu.

Nhưng chính lúc này, chẳng hiểu ma đưa lối quỷ dẫn đường thế nào mà Hồng Sơn đã bị bạn bè rủ rê, lôi kéo vào con đường nghiện ngập ma tuý. Càng ngày càng lún sâu, bao nhiêu tiền ném vào ma túy cũng hết, gia đình tan nát cũng là điều dễ hiểu. Hồng Sơn không thể níu kéo được người vợ.

Thu Hương không thể ở được với anh, đã bỏ sân khấu, làm nghề trang điểm cô dâu để nuôi con gái ăn học. Trở nên cô đơn, Hồng Sơn lại càng lún sâu thêm vào vũng bùn hút, chích. Đây là những ngày tháng cùng cực nhất.

Có lần anh đã tự tìm đến cái chết nhưng không thành. Không một xu dính túi, anh phải lang thang đi xin hoặc vay tiền bạn bè để mua hê-rô-in. Có người nể anh đã đáp ứng. Nhưng cũng có người do thương và tiếc cho tài năng của anh mà nghiêm khắc, từ chối.

NSND Khải Hưng kể có lần đi họp về thấy Hồng Sơn đứng chờ ở cửa phòng làm việc của mình tại Đài Truyền hình Việt Nam. Vị đạo diễn mở cửa, Hồng Sơn theo vào, hỏi xin tiền để mua ma tuý. Vốn quý hoá và trân trọng Sơn nhưng Khải Hưng thấy không thể đáp ứng lời đề nghị của bạn, bèn nói thẳng: “Người như ông thì tôi không tiếc gì. Nhưng ông cần tự trọng và phải có ý chí để cai nghiện…”. Hồng Sơn chỉ còn cách ra về.

Anh nghĩ mãi về lời từ chối và khuyên chân thành của Khải Hưng. Sau đó, thấy xấu hổ và hối hận, anh đã đến công an xin được đi cai nghiện tập trung. Lúc này cô con gái Kim Chi mới vào đại học đã đưa bố đến trại. Hồng Sơn đã quyết tâm làm lại cuộc đời. Sau 2 năm ở trại, cai xong, anh được về.

Phim “Ma làng” nổi tiếng được nhiều người ưa thích có sự xuất hiện của Hồng Sơn trong vai Dỏ - một Chí Phèo thời hiện đại – chính là sự trở lại đầu tiên của anh sau khi cai nghiện. Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần đã không một chút do dự mà đầy niềm tin, đã trao cho anh vai này.

Tuy xuất hiện không nhiều nhưng có tính cách không dễ thể hiện, nhất là lại khác xa với những nhân vật chính diện, “kép thương” mà Hồng Sơn vẫn quen vào vai. Hầu hết các vai anh thể hiện cả trên sân khấu lẫn màn ảnh trước đó đều là chính diện, tích cực.

Lần đầu tiên Nguyễn Hữu Phần muốn Hồng Sơn vào một vai khác hẳn, giống với kiểu Chí Phèo truyền thống từng rất nổi tiếng trong văn học hiện thực trước Cách mạng Tháng Tám. Con người bạc nhược, không làm chủ được bản thân để dễ mắc nghiện hút là thế mà sau khi cai, đã thành một người đầy nghị lực để liên tiếp gặt hái được thêm nhiều thành công mới.

Ngoài “Ma làng”, anh đã có mặt trong nhiều phim khác, đều được các đạo diễn rất hài lòng: “Dòng sông phẳng lặng”, “Một thời đã sống”, “Cỏ lông chông”, “Gió làng Kình”, “Nhà có nhiều sửa sổ”. Xem những phim này, khán giả không thể nhận ra Hồng Sơn từng là một con nghiện có “hạng” tưởng như vùi lấp, huỷ diệt tài năng của anh. Vẫn một Hồng Sơn luôn hết mình trong việc lột tả chiều sâu của nhân vật với lối diễn rất tiết chế ngoại hình, chủ yếu chỉ biểu cảm bằng đôi mắt, nụ cười. Có vẻ như sau khi cai xong, anh diễn xuất còn hay hơn trước.

Cố NSƯT Hồng Sơn vào vai Dỏ trong phim “Ma làng”.
Cố NSƯT Hồng Sơn vào vai Dỏ trong phim “Ma làng”.

Người ta thấy rõ quyết tâm của anh muốn chuộc lại những tháng ngày lầm lỗi, để phí phạm năng lực của bản thân. Bạn bè, đồng nghiệp vì thế mà càng thêm thương, quý, nể anh hơn. Thường thì người thông minh, có tài không cần cù, chịu khó bằng người hạn chế, kém cỏi hơn. Vậy nên mới có câu “Cần cù bù thông minh”. Nhưng Hồng Sơn thì lại cực kỳ chịu khó, mặc dù anh có tài bẩm sinh.

Nhiều bạn diễn với anh kể lại: Có những phim yêu cầu diễn viên lúc diễn phải thuộc lòng lời thoại chứ không được nhắc. Ai cũng lo làm tốt việc này, nhưng không ít người vẫn bị vấp do chưa thuộc lòng được lời thoại. Đương nhiên như vậy thì phải quay lại. Và đạo diễn không thể hài lòng. Nhưng Hồng Sơn thì không bao giờ mắc. Để đạt được như vậy, anh đã phải bỏ ra rất nhiều thời gian để học thuộc lời. Giờ nghỉ trưa, trong khi mọi người nghỉ, ăn cơm thì anh tranh thủ học thêm cho thật thuộc. Vậy nên anh diễn chỉ phải quay một “đúp” là đạt yêu cầu.

Khi Hồng Sơn hoàn toàn trở lại màn ảnh và còn hơn cả phong độ cũ thì bất trắc, rủi ro lại vẫn cứ tiếp tục đeo bám anh để năm 2008, trong một lần đi đóng phim, do xe đổ, anh bị gẫy 2 xương đùi và 2 xương sườn. Tai nạn quá nặng khiến anh phải vào điều trị tại bệnh viện Trường Đại học Y. Do bác sỹ sử dụng nẹp và vít kém chất lượng nên anh phải qua hai lần phẫu thuật. Ở lần mổ thứ hai, anh bị sốc thuốc suýt tử vong ngay trên bàn mổ. Ra viện, anh tham gia bộ phim “Chủ tịch tỉnh”. Đây là bộ phim cuối cùng của anh.

Sau hai lần mổ kéo khá dài, sức khoẻ của Hồng Sơn sút kém nhiều so với trước. Giữa những ngày tháng này, tôi quen biết anh từ một sự rất tình cờ. Anh ít hơn tôi cả chục tuổi nên xưng hô “anh, em” và trò chuyện rất cởi mở, thân mật cứ như có mối quan hệ thâm tình từ lâu. Anh tâm sự nhiều chuyện khá sâu kín trong cõi riêng tư cũng như những dự định trong tương lai.

Anh nói đóng phim cũng đã nhiều, dù được ghi nhận nhưng cũng chỉ đến thế. Làm đạo diễn thì không thể bởi nghề này phải được học hành bài bản chứ không thể cứ diễn giỏi là làm được. Anh có dự định sẽ trở thành nhà tổ chức sản xuất phim. Lúc này, anh đã có cháu ngoại. Nghĩ lại nhiều kỷ niệm của quá khứ, anh có ý muốn hàn gắn lại tổ ấm đã đổ vỡ vì người vợ cũ của anh lúc này cũng đã chia tay người chồng thứ hai. Nhưng việc này không thành.

Sau khi nghe anh kể nhiều về người vợ đã chia tay, về lý do vì sao mong muốn của anh không thể thành sự thật, tôi hỏi anh: “Phải chăng vì thế mà Sơn quyết định thuê nhà tận bên phường Bồ Đề (Gia Lâm) để ở? Sơn muốn lánh xa bớt sự ồn ào mặc dù sang bên đó sẽ không thuận tiện cho việc đi lại gặp gỡ, thù tạc với bạn bè?”. Anh chỉ cười – vẫn nụ cười hiền khô quen thuộc – mà không nói gì. Nhưng tôi hiểu mình đã nói đúng ý nghĩ, tâm trạng của người bạn trẻ hơn mình mươi tuổi.

Khi Hồng Sơn qua đời, tôi ở xa, không thể đến đưa tiễn anh. Sau đó, tôi nghe nói đám tang anh có rất nhiều người đến viếng và không ít bè bạn đã khóc như tiễn chính người ruột thịt của mình.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.