Vĩnh biệt sầu nữ Út Bạch Lan

Đầu năm 2016, NSƯT Út Bạch Lan được bác sĩ phát hiện trong gan có khối u. Sau khi được đội ngũ y bác sĩ bệnh viện Chợ Rẫy tích cực điều trị, sức khỏe của bà có tiến triển tốt. Bà tiếp tục tham gia công tác từ thiện - công việc mà bà gắn bó gần 30 năm qua - với các thành viên trong nhóm Hoa Lan Trắng do bà sáng lập. Thế nhưng, vì tuổi cao sức yếu, bà không đủ sức chống chọi với bệnh tật, đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng vào lúc 22h50 ngày 4-11-2016.

Người thân, rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp đã tỏ lòng tiếc thương vô hạn với người nghệ sĩ vừa quá cố. NSƯT Diệu Hiền - Đệ nhất đào võ của sân khấu cải lương ngậm ngùi nói: “Đối với tôi, chị Hai Út Bạch Lan vừa là thần tượng, vừa là người dẫn dắt tôi tham gia công tác từ thiện. Nay chị mất rồi làm tôi rất nhớ! Nhớ lắm những kỷ niệm mà hai chị em chúng tôi cùng các em cháu trong nhóm Hoa Lan Trắng đi diễn ở các chùa”.

NSƯT Mỹ Châu (đồng hương của sầu nữ Út Bạch Lan) chia sẻ: “Giữa năm 2016, tôi nhờ nhà báo Thanh Hiệp chở đến nhà thăm chị Hai Út Bạch Lan. Chị ôm hôn tôi, nhưng không ngờ đó là nụ hôn cuối cùng và vĩnh biệt. Tôi vô cùng đau khổ vì trước đây tôi đã mất mẹ, mất anh, mất chị, mất chồng; nay lại mất đi người chị đáng kính trong nghề - một bậc thầy, một người ân đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong những ngày đầu bước chân vào nghề hát”.

Là đứa con tinh thần và có nhiều năm diễn chung với NSƯT Út Bạch Lan ở nhóm Hoa Lan Trắng, nghệ sĩ Thanh Sử bồi hồi tâm sự: “Tình thương của mẹ Út Bạch Lan dành cho tôi rất nhiều. Mẹ dạy tôi đủ điều, từ nghề nghiệp cho đến cách sống ở đời. Tôi thương mẹ ở tấm lòng nhân hậu, bao dung. Ngày 19/11/2016 tới đây, những tưởng hai mẹ con có dịp hát chung trong chương trình văn nghệ gây quỹ ủng hộ học sinh nghèo ở huyện Tân Trụ (Long An), nhưng không ngờ… mẹ ra đi đột ngột, khiến tôi hụt hẫng”.

Sầu nữ Út Bạch Lan (ngoài cùng bên trái) và NSND Kim Cương.
Sầu nữ Út Bạch Lan (ngoài cùng bên trái) và NSND Kim Cương.

Từ Bình Dương, vợ chồng Nghệ nhân ưu tú (NNƯT) Phạm Ngọc Phú - Cao Thị Thắng chạy xuống thắp hương cho sầu nữ cải lương và bày tỏ: “Chúng tôi rất kính trọng NSƯT ÚT Bạch Lan không chỉ vì tài năng, mà còn đức độ của bà nữa. Bà sống rất giản dị, biết yêu thương và quý trọng mọi người. Bà là một nghệ sĩ giàu lòng yêu nghề và luôn nhiệt huyết với sân khấu cải lương”.

Và còn rất nhiều…rất nhiều những nỗi niềm, những tình cảm “đặc biệt” của mọi người dành cho nghệ sĩ gạo cội của cải lương Việt Nam.

Tuổi thơ cơ cực

Bà sinh năm 1935 trong một gia đình nghèo ở xã Lộc Giang, huyện Ðức Hòa, tỉnh Long An. Hồi nhỏ, vì khó nuôi, Ðặng Thị Hai (tên thật của bà) được một gia đình người quen nhận làm con đỡ đầu. Gia đình này đông con nên thường gọi bà là bé Út hoặc Út Lùn vì bà có vóc người nhỏ nhắn. Năm 1945, cha mẹ xa nhau, bé Út theo mẹ rời quê hương Lộc Giang xuống Chợ Lớn (Sài Gòn) lập nghiệp. Hằng ngày, bà mẹ đi làm thuê, còn bé Út thì ai sai gì làm nấy để được cho tiền.

 Cùng “cư ngụ” trong chợ Bình Tây lúc bấy giờ có thêm hai mẹ con của danh cầm Văn Vĩ. Do cùng cảnh ngộ, hai bà mẹ kết nghĩa chị em, bé Út và Văn Vĩ thương nhau như anh em ruột thịt. Vốn biết ca vọng cổ, còn Văn Vĩ là tay đờn điêu luyện, bé Út nảy ra sáng kiến rủ anh Văn Vĩ đi hát rong kiếm tiền nuôi mẹ.

Khi giọng ca của bé Út cất lên cùng với tiếng đàn guitar phím lõm “mùi mẫn” của danh cầm Văn Vĩ, người đi đường dừng lại lắng nghe và cho tiền rất nhiều. Một ngày nọ, có một ông già tốt bụng ở gần chợ Bàu Sen (Quận 5) cho hai anh em mượn chỗ dạy đờn ca. Chẳng bao lâu, lớp dạy đờn ca vọng cổ của Văn Vĩ và bé Út thu nhận gần 30 học trò cùng lứa tuổi.

Tiếng lành đồn xa, nghệ sĩ Năm Cần Thơ - danh ca cổ nhạc của Đài Phát thanh Pháp Á thời bấy giờ tìm đến và dẫn hai anh em về Đài thu âm bài vọng cổ “Trọng Thủy - Mỵ Châu” và được ký luôn hợp đồng làm việc cho Đài. Chính danh ca Thành Công gợi ý đặt nghệ danh cho bé Út là Bạch Lan, nhưng bà xin phép lót thêm chữ “Út” (tên thường gọi) thành Út Bạch Lan. Năm ấy, bà mới 12, 13 tuổi.

Nổi danh nhờ giọng ca bi ai, não nuột

Bước vào nghiệp cầm ca, NSƯT Út Bạch Lan nhanh chóng nổi danh nhờ giọng ca bi ai, não nuột. Song song với công việc thu âm cho Đài phát thanh, năm 1952, bà bắt đầu theo chân đoàn hát cải lương. Đầu tiên là gánh Kim Khánh của ông bầu Cang với các nghệ sĩ nổi tiếng như: Kim Nên,Thu Ba, Hồng Vân, Ngọc An; sau đó, bà chuyển qua gánh Tơ Huệ, rồi về cộng tác với gánh Kim Thanh do bốn “ngôi sao cải lương” thời ấy là các nghệ sĩ: Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng và Thúy Nga làm bầu gánh.

Tại đây, bà được soạn giả Viễn Châu viết thêm hai câu vọng cổ trong hai vở tuồng “Đời cô Nga” và “Tình vương hoa thắm” theo kiểu “đo ni đóng giày”. Nhờ hai câu vọng cổ này, danh tiếng của Út Bạch Lan ngày càng vang xa hơn.

Cuối năm 1955, Út Bạch Lan chuyển qua gánh Thanh Minh của bà bầu Thơ, đóng vai đào thương và thành công trong các vở tuồng: “Biên Thùy nổi sóng”, “Cung đàn trên sông lạnh”, “Người đẹp Bạch Hoa Thôn”, “Hoa Mộc Lan”, “Sơn nữ Phà Ca”… Năm 1958, bà về gánh Kim Chưởng làm đào chánh trong các vở: “Chưa tắt lửa lòng”, “Bên đồi trăng cũ”, “Thuyền ra cửa biển”, “Áo trắng nàng Mộng Trinh”, “Nửa bản tình ca”,…

Đây là giai đoạn mà báo giới kịch trường tôn tặng bà nhiều danh hiệu như: “Nữ hoàng vọng cổ”,“Đệ nhất đào thương”, “Nữ hoàng sầu mộng”, “Sầu nữ Út Bạch Lan”, “Vương nữ sương chiều”…

Bà thích nhất mỹ danh “Sầu nữ” vì cuộc đời bà chuyện buồn nhiều hơn vui. Trên sân khấu thì chuyên ca những bài buồn, chuyên đóng những vai buồn và khóc thật nhiều với nhân vật của mình. Ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc đã bình luận về bà như vậy trong một bài viết có nhan đề “Sầu nữ Út Bạch Lan” trong thập niên 60 của thế kỷ trước.

NSƯT Út Bạch Lan.
NSƯT Út Bạch Lan.

Năm 1961, bà lập gánh “Út Bạch Lan - Thành Được”, tiếp tục được người trong giới và khán giả mến mộ qua các vở: “Khi rừng mới sang thu”, “Khi hoa anh đào nở”,… Sau đó, bà về hát đào chánh cho gánh Thanh Minh - Thanh Nga. Đặc biệt, giai đoạn này, NSƯT Út Bạch Lan tạo “dấu ấn” sâu đậm trong lòng người ái mộ với bài vọng cổ “Hoa Lan trắng” nói về cuộc đời của bà, do cố soạn giả Viễn Châu viết riêng cho “Đệ nhất đào thương”.

Thập niên 80, 90 của thế kỷ 20, không chỉ biểu diễn, bà còn tham gia hội đồng nghệ thuật ở đoàn Cải lương Sài Gòn 1, Long An 2 và CLB Cải lương thuộc Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó,vì tuổi cao sức yếu, bà tạm ngưng tham gia đoàn hát và hoạt động nghệ thuật tự do cho đến ngày nhắm mắt.

Sự ra đi của NSƯT Út Bạch Lan là một mất mát không sao bù đắp được cho gia đình và sân khấu cải lương. Bà là một nghệ sĩ mà cả cuộc đời luôn tâm huyết và có nhiều đóng góp đáng kể cho di sản nghệ thuật sân khấu truyền thống của miền Nam.

Người trong giới và khán giả mộ điệu sẽ mãi còn nhớ đến bà. Nhớ đến “huyền thoại” cải lương Út Bạch Lan vì những vai diễn dạt dào cảm xúc trong các vở tuồng: “Tấm lòng của biển”, “Con gái chị Hằng”, “Thuyền ra cửa biển”, “Nửa đời hương phấn”,... Nhớ giọng ca ngọt ngào, mang đậm chất bi ai của một người nghệ sĩ tài hoa. Ngoài chất giọng thiên phú bẩm sinh, nghệ thuật ca vọng cổ của “sầu nữ cải lương” vô cùng độc đáo.

Bà ca như nói, đặc biệt, kỹ thuật nhấn dấu “sắc lửng” rất hay, vút lên rồi nhẹ nhàng rơi rơi như chiếc lá bay nhè nhẹ. Khi ca vọng cổ, cách hành văn, sắp nhịp của bà vô cùng độc đáo. Không sử dụng kỹ thuật lắt léo, nhưng nhờ chất giọng vừa ngọt, vừa mùi, bà vẫn diễn tả được nội dung bài hát, lột tả được “cái thần” của nhân vật. Giọng ca của của bà tới nay vẫn là một “chuẩn mực”, thể hiện đẳng cấp cao của nghệ thuật ca vọng cổ chính thống, tạo lập một “trường phái” riêng biệt, xứng danh “Sầu nữ”.

Phạm Thái Bình

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.