Viện an dưỡng Verdi - Tác phẩm số một (Nhân 120 năm nhà soạn nhạc Verdi qua đời)

Nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi (1813-1901) được coi là Victor Hugo của đất nước Italia. Cha ông vốn là một nông dân. Về sau mở một quán cà phê kiêm tạp phẩm. Thu nhập bấp bênh và ít ỏi. Từ bé, Giuseppe Verdi đã tỏ rõ năng khiếu âm nhạc siêu phàm.

Một chức sắc địa phương đỡ đầu ông và tạo điều kiện cho ông ăn học đến nơi đến chốn. Kết hôn với con gái cha đỡ đầu, năm 1838, ông chuyển tới Milano, trung tâm văn hóa Italia bấy giờ. Năm 1839, vở nhạc kịch đầu tiên của ông được hoan nghênh nhiệt liệt. 

Vở thứ hai, năm 1840, bị chê bai thậm tệ. Ấy là do từ 1838 tới 1840, hai người con của ông liên tiếp chết yểu, người vợ trẻ cũng buồn phiền và lìa đời sau đó. May thay một kịch bản ông nhận được đã giúp ông vùng dậy, nhiều chi tiết trong vở kịch đã thức tỉnh trong ông lòng yêu nước tiềm tàng. Ông lao vào viết vở nhạc kịch “Nabucco”, và trở thành kiệt tác vào năm 1842. 

Từ 1843 đến 1871, ông viết 20 vở nhạc kịch. Vở nào cũng được đón nhận nồng nhiệt. Sau đó, ông im lặng 16 năm trời. Trừ năm 1874, ông cho ra mắt tác phẩm thiên tài “Khúc tưởng niệm”, tri ân văn hào Alessandro Manzoni (1785-1873), người có công lớn trong cuộc giành lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc.

Verdi và vợ, Giuseppina Strepponi.
Verdi và vợ, Giuseppina Strepponi.

Nhưng rồi ông rút vào im lặng. Hiển nhiên, các tác phẩm của ông vẫn liên tục được trình diễn. Ông im lặng là do thức thời. Dạo ấy, xuất hiện một lớp tác giả mới, Bizet, Massenet, Wagner, với tài năng đầy triển vọng. Ông không muốn mình và sáng tác của mình bị đem ra so bì với cánh trẻ. Ở hiền gặp lành. Bất ngờ, nhà viết kịch Arrigo Boito, sinh năm 1842, tha thiết đề nghị ông viết nhạc kịch cho hai kịch bản mà Boito sáng tác theo kịch của Shakespeare. Ông nhận lời. 

Hai vở này, “Otello” (hoàn thành năm 1887 khi Verdi 74 tuổi) và “Falstaff” (hoàn thành năm 1893 khi Verdi 80 tuổi) - trở thành hai tác phẩm kinh điển của nhạc kịch toàn cầu. Chúng minh chứng cho khả năng đổi mới phi thường, sức thanh xuân vĩnh cửu của một nghệ sỹ gắn bó sâu nặng với Tổ quốc và nhân dân… 

Một trong những đổi mới đó là đi sâu vào những trăn trở thầm kín nhất của các nhân vật. Hôm nay, nhân vật Otello được giới chuyên môn và công chúng cảm nhận là của Verdi hơn là của Shakespeare: Với Shakespeare, Otello là một anh hùng kiêu hãnh, không thỏa hiệp, không biết đến nghi ngờ. Với Verdi, Otello là một người dễ bị tổn thương, bị xâu xé bởi nhiều ưu tư (mình da đen, lớn tuổi, tình yêu của cô gái da trắng với mình là chân thành hay giả dối…?).         

Sức sống của nhiều vở nhạc kịch của Verdi, như “Nabucco”, “Rigoletto”, “Thi sỹ đường phố”, “Trà hoa nữ”, “Don Carlo”, “Aida”, “Khúc tưởng niệm”, “Otello, Falstaff”,… chủ yếu là nhờ những phát hiện đặc sắc như vừa kể. Dấu ấn thời đại là ám ảnh. Đó là lòng yêu nước, ý chí độc lập tự do sục sôi bấy giờ của nhân dân lao dộng, quý tộc và tinh hoa xã hội. Sự thật này được nhiều văn nghệ sỹ Italia thời ấy phản ánh chân thực và xúc động. 

Nhờ gần gũi người lao động bình thường, Verdi nổi trội hẳn lên. Cho nên, không ngẫu nhiên, Verdi được tôn sùng là anh hùng dân tộc, lãnh tụ tinh thần của nhân dân Italia cương quyết giành lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc. Cuộc đấu tranh này của nhân dân Italia thuộc nhóm những kỳ tích tự giải phóng trong lịch sử nhân loại. Dựa nhiều vào chuyện xưa, chuyện nước ngoài, tác phẩm của Verdi lại rất thời sự. Đó đều là những khát vọng độc lập tự do nóng bỏng, bộc lộ qua những trạng thái tâm lý điển hình, không chỉ của dân tộc mình, thời đại mình. Hiếm nghệ sỹ gặp nhiều may mắn như ông. Bấy giờ, nhà hát Scala ở Milano chỉ dành cho những tên tuổi lớn. 

Nữ ca sỹ nhạc kịch Giuseppina Strepponi (1815-1897) cảm nhận ngay được tầm vóc của Verdi, khi ông mới trình làng hai vở. Bà lớn tiếng yêu cầu Scala dành ngay chỗ cho ông. Năm 1842, tại Scala, vở “Nabucco” của ông, mà Giuseppina Strepponi thủ vai nữ chính, được trình diễn 57 buổi liên tiếp, một kỷ lục thời đại. Quá say mê nhân vật và độ siêu thâm trầm nhân bản của Verdi, bà đã căng hết sức lực thể chất và tâm hồn của mình, nên giọng bị hỏng. Năm 1846, bà tới sống ở Paris, chuyển sang dạy hát. Năm 1847, Verdi tìm tới và hai người bén duyên đôi lứa. 

Năm 1849, bà về sống ở quê chồng. Năm 1859, hai người làm đám cưới. Bà luôn luôn sát cánh với Verdi, trong mọi sáng tác của ông. Đó là thảo luận với ông các ý tưởng, cốt truyện, chi tiết từng cảnh, sửa chữa, bổ sung, hát thử liên tục để ông chỉnh sửa, đạt tới tầm mong đợi. Đi đâu, ông bà cũng như hình với bóng. Một mối tình huyền thoại!…

Biển đề Viện an dưỡng Verdi và tượng nhạc sỹ.
Biển đề Viện an dưỡng Verdi và tượng nhạc sỹ.

Quan niệm sống của Verdi quyết định việc ông xử lý đúng đắn các vấn đề sáng tác và đời thường. Chuyện tình vừa kể là một ví dụ. Năm 1848, ông mua một khu đất rộng, cách thị trấn quê ông ba cây số. Ở đó, ông xây nhà ở và làm việc cho mình, đồng thời mở một nông trại kiểu mới, ông đích thân điều hành thuần thục. Ông tạo mọi điều kiện cho hai trăm nông dân lao động ở đó được sống dễ thở. Họ được ông coi như người thân, cũng là nguồn vô tận các chiêm nghiệm lẽ đời. 

Tất cả nhạc kịch về sau của ông đều được viết trong không khí nông trại. Như Cholokhov có máy bay và sân bay riêng, Verdi cũng có xe ngựa sang riêng, đi về khắp nơi, ở Italia và châu Âu, mau chóng và thuận tiện. Ông được dân bầu làm Nghị sỹ, hoạt động xã hội hiệu quả. Ông là tiếng lòng của những người cùng khổ, nhà thơ của thế giới bên lề xã hội. Cho nên, ông trở thành một nhân vật quan trọng của cả châu lục. Không thể lỗi mốt, vĩnh viễn thời sự và được yêu thích, Verdi mãi mãi bên cạnh và cần thiết cho mọi người. 

Là người trung thành với quê cha đất tổ, với Tổ quốc, và với các truyền thống dân tộc, ông luôn luôn yêu thương và trân trọng những người dân nghèo khổ. Năm 1898, ông khánh thành nhà dưỡng lão mà ông bỏ tiền túi xây dựng, dành cho người dân có tuổi không nơi nương tựa. Từ 1885, ông cho xây dựng một biệt thự đặc biệt, theo thiết kế của một kiến trúc sư lừng lẫy đương thời. 

Năm 1889, hiện ra lộng lẫy biệt thự rộng lớn hai tầng, - từ những năm 1930, thêm một tầng nữa -, ở quảng trường Michelangelo Buonarotti, thành phố Milano. Verdi muốn mời tới đó sống những năm tháng cuối đời những người hoạt động âm nhạc khó khăn chủ yếu về tài chính. 

Từ đầu, ông đã rất thận trọng khi đặt tên cho biệt thự. Ông không gọi nó là “nhà tế bần”, “nhà tình thương”, mà là “nhà an dưỡng”. Viện an dưỡng chỉ nhận khách sau khi ông khuất núi để tránh cho họ mặc cảm ân huệ tủi lòng. Tiêu chí chọn khách: Viện chỉ đón những người thực sự vì âm nhạc, kém may mắn hay chểnh mảng việc tiết kiệm từ thời còn trẻ. 

Viện an dưỡng Verdi có một hầm mộ rộng đẹp. Đây là nơi an nghỉ ngàn thu bên nhau của ông và bà Giuseppina Strepponi, mà buổi nhập mộ là một sự kiện lớn: 900 ca sỹ và nhạc công tấu bài đón rước thiêng liêng và oai hùng. Viện có nhiều phòng. Một phòng chung rộng rãi để biểu diễn. Vài phòng trưng bày những kỷ vật quý nhất của Verdi, đồ cổ, dương cầm,… tặng phẩm của các nhà vua, bạn hữu. Nhiều phòng luyện hát hay chơi một loại đàn. 

Thường mỗi khách được ở một phòng riêng. Luôn được một nhân viên y tế gần gũi chăm lo sức khỏe… Chỉ nhận khách mới, khi một khách cũ qua đời. Viện bắt đầu hoạt động từ năm 1902, sau khi Verdi rời cõi tạm năm 1901. Kinh phí là toàn bộ bản quyền nhạc kịch mà ông hiến tặng. 

Gần đây, Viện cũng nhận những khoản tài trợ của các nhà hảo tâm. Chi phí thường được tăng, vì khách tham quan (miễn phí) ngày một nhiều. Một trăm hai mươi năm qua, Viện là một địa chỉ văn hóa hàng đầu của Italia. Không nợ nần, không bê bối, chỉ có âm nhạc, niềm vui sống và trân quý con người. Viện là biểu tượng của một tấm lòng bè bạn, một lời chúc chí nghĩa chí tình, rằng quý nhất của vũ trụ là con người, quý nhất của xã hội là nghệ sỹ, xin đừng làm tổn thương hoặc xâm hại sự thật ngàn đời ấy của nhân loại. 

Năm đầu, Viện đón tiếp 5 nam và 4 nữ, nhạc sỹ già. Hiện nay, đang an dưỡng tại Viện có 65 vị. Hơn 40 vị là ca sỹ, nhạc công, nhạc sỹ, tuổi hầu hết trên 70, có vị gần 100 tuổi. Gần 20 là sinh viên các nhạc viện, trong đó có 1 người Hàn Quốc, 1 người Nhật Bản… Hòa hợp chí nghĩa chí tình, không phải chỉ giữa các đồng nghiệp cùng trang lứa, mà cả giữa các thế hệ, giữa các vùng miền khác biệt, giữa xa xưa và hiện tại, giữa thiên tài đỉnh cao và nghệ sỹ “dân thường”… – ấy là nét đẹp mới của Viện an dưỡng Verdi, “tác phẩm hay nhất” của Verdi, như chính ông thổ lộ lúc sinh thời… 

Phương Kim Phượng

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...