Giáo sư Võ Quý:

Vì muôn đời hoa lá xanh tươi

Nhắc tới giáo sư Võ Quý là nhắc tới một nhà khoa học lớn về môi trường, cả đời ông là chuyến đi dài như một nhà "thám hiểm" hết rừng rậm non cao để khám phá những thế giới sinh vật lạ. Bộ óc của giáo sư Võ Quý là kho báu lớn về những thành tựu các công trình khoa học, cống hiến cho nhân loại các giải pháp gìn giữ sự sống của trái đất xanh.

Tôi có những kỷ niệm không thể nào quên khi được tiếp xúc với ông: Vào khoảng năm 1996, ông được nhận một giải thưởng lớn của Trường đại học Michigan (Mỹ) về phát hiện ra gà lôi lam đuôi trắng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ,  báo Lao Động nhờ tôi liên lạc để đưa ngay nguồn tin nóng này.

Với một người chưa quen biết, việc liên lạc với ông qua điện thoại tôi sợ gặp khó khăn. Chẳng thể ngờ từ đầu dây nói, ông cất tiếng chào tôi rất lịch sự rồi cung cấp cẩn thận, kỹ càng cho tôi thông tin này, thậm chí ông còn đọc từng chữ và phiên âm rõ nghĩa từ tiếng Anh qua tiếng Việt về một số từ ngữ trong khoa học nghiên cứu cho tôi - một phóng viên ở tỉnh lẻ mà ông chưa từng quen biết để cho tôi hiểu mà viết cho chuẩn xác… Nhờ thế, tin ấy được báo Lao Động đưa rất kịp thời, tôi được tòa soạn thưởng thêm nhuận bút về tin hay.

Năm 2003, GS. Võ Quý (giữa) vinh dự là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên và là người châu Á thứ 2 vinh dự nhận giải thưởng Hành tinh xanh.
Năm 2003, GS. Võ Quý (giữa) vinh dự là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên và là người châu Á thứ 2 vinh dự nhận giải thưởng Hành tinh xanh.

Lần thứ hai tôi được chính thức gặp ông tại khách sạn Hương Sen (thành phố Hà Tĩnh). Đứng trước vị giáo sư, nhà giáo có tên tuổi nhưng tôi thấy ông quá khiêm tốn, bình dị, gần gũi. Một chiếc máy ảnh, một túi du lịch đựng vài bộ quần áo dã chiến cùng tài liệu ghi chép đã khiến tôi ngưỡng mộ và khâm phục ông với trái tim đam mê nghề nghiệp hết mình. Mái đầu ông hồi ấy đã pha sương, nhưng đôi mắt thông minh sắc sảo ẩn dưới đôi lông mày dài và rậm vẫn toát lên sức phơi phới của tuổi đương thì. Giáo sư Võ Quý bảo tôi: "Mình quê ở Yên Hồ huyện Đức Thọ, quê mình chỉ có ruộng đồng không có núi non gì nhưng từ nhỏ mình đã thích rừng, yêu chim thú thiên nhiên".

Năm 1946 ông thi đậu vào trường Quốc học Huế và là một trong bốn học sinh Nghệ An - Hà Tĩnh đỗ khóa ấy. Nhưng điều không may mắn cho cậu học trò nhỏ này, vừa học được vài tháng thì Huế bị thực dân Pháp đánh chiếm, Võ Quý đành phải về quê làm ruộng. Một năm sau, trường chuyển ra Hà Tĩnh, ông lại tiếp tục theo đuổi sự nghiệp đèn sách. Giáo sư Võ Quý tâm sự "Hồi trẻ tôi rất thích làm nghề y, nên việc làm thầy "gõ đầu trẻ" tôi không mặn mà lắm. Đã không ít lần định bỏ nghề, nhưng sau quen dần và yêu nghề  lúc nào không biết nữa".

Năm 1949 thầy giáo Võ Quý bắt đầu lên bục giảng ở trường cấp hai Liên Việt. Năm 1950, ông được điều chuyển về dạy trường  cấp 3 Phan Đình Phùng, sau đó con đường nhà giáo của ông được tiếp tục hành trình và trưởng thành tại Trường sư phạm trung cấp liên khu bốn Nghệ An, Trường cấp ba Lam sơn Thanh Hóa rồi nhận công tác tại Nha giáo dục phổ thông - Bộ Giáo dục. Từ năm 1956, ông làm việc tại trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là Trường đại học quốc gia Hà Nội).

Ông tâm sự với tôi rằng: "Từ khi về Hà Nội mình đã trải qua nhiều cương vị khác nhau, nào là giảng viên rồi trưởng phòng đào tạo rồi làm chủ nhiệm Khoa sinh học. Nghĩa là ban giám hiệu phân công gì mình đều nhận cả và khi đã nhận là làm nghiêm túc, không ai có thể chê cười". Là một giáo sư có đức có tài, có kinh nghiệm hay trong công tác giảng dạy, giáo sư Võ Quý chẳng những được học trò kính trọng, được đồng nghiệp khâm phục, ông còn được các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học Nông nghiệp mời tới truyền đạt các bài giảng cho sinh viên.

Không những trong nước giáo sư Võ Quý còn tham gia giảng dạy tại các trường đại học Wisconsin, Berkley (Mỹ), Oxford (Anh)... Giáo sư Võ Quý cũng là một trong những người sáng lập ra nhiều tổ chức hoạt động hay trong nước, như "Tổng hội các nhà sinh học", "Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường", "Hội sinh thái học", "Hội nạn nhân chất độc màu da cam - dioxin", ông cũng là một thành viên tham gia tích cực  các tổ chức quốc tế như "Hội đồng vườn quốc gia và Khu bảo tồn quốc tế" (WCPA/IUCN).

Năm 1985, Giáo sư Võ Quý đã sáng lập và làm giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Trường đại học tổng hợp Hà Nội. Đây là một trung tâm đầu tiên của Việt Nam với chức năng vừa nghiên cứu vừa đào tạo bổ túc kiến thức về môi trường. Trung tâm này đã gây được sự chú ý của công chúng bởi giáo sư không chỉ biết truyền thụ những kiến thức chuyên sâu mà còn có năng lực tổ chức quản lý sắp xếp đội ngũ làm việc say mê, nhiệt tình. Từ trung tâm đã xâu chuỗi được cả một hệ thống cộng tác viên rộng rãi khắp nơi trong cả nước. Trung tâm còn "nối vòng tay lớn" với tổ chức quốc tế. Trong sự nghiệp giảng dạy, nhờ sự dẫn dắt của giáo sư Võ Quý nhiều học sinh đến nay đã trưởng thành, không ít người đã có những công trình khoa học lớn.

Nhưng cái bao trùm nhất và chổ đứng cao nhất, "xanh nhất" của giáo sư Võ Quý - ấy là sự nghiệp khám phá và nghiên cứu về sinh học và môi trường. Ngay từ  năm 1971, khi cả nước còn chìm ngập trong khói lửa chiến tranh, giáo sư Võ Quý đã có mặt tại  khu vực sông Bến Hải Quảng Trị. Ông đã đặt chân đến cánh rừng Rú Lệnh (Quảng Bình) xác xơ vì bom Mỹ và chất độc da cam rải thảm.

GS. Võ Quý trong một chuyến khảo sát tại Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An).
GS. Võ Quý trong một chuyến khảo sát tại Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An).

Năm 1974 giáo sư Võ Quý lại dẫn đầu một đoàn công tác vượt vĩ tuyến 17 lặn lội ba tháng đằng đẵng, nộp không biết bao nhiêu "thuế máu" cho vắt và muỗi để điều tra và ghi chép lại hàng ngàn héc ta  rừng bị thiêu trụi vì chất độc hóa học Mỹ. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông lại khá kinh ngạc và buồn bã trước nạn di cư tự do ồ ạt của dân chúng vào Tây Nguyên tìm kế mưu sinh, chặt phá tài nguyên rừng, đốt rừng làm rãy làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường. Chính giáo sư Võ Quý đã kịp thời lên tiếng trên nhiều diễn đàn và trên hệ thống thông tin đại chúng về vấn đề nguy cơ này.

Không chỉ có Tây Nguyên mà tình hình nghiêm trọng phá rừng của cả nước đã hàng ngày, làm trái tim ông nhức buốt, khi nhiều người chưa hiểu được sự tàn khốc phải trả giá về bão tố, về nắng hạn họ đang tay chặt phá. Giáo sư Võ Quý đã cảnh báo: "Nếu không có những biện pháp mạnh trong bảo vệ rừng thì hai thập kỷ nữa nước ta sẽ không còn những cánh rừng tự nhiên". Ông đã mạnh dạn trình bày những vấn đề bức xúc của mình, đồng thời đề xuất các giải pháp của mình trong vấn đề bảo vệ môi trường với đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn và được đồng chí Tổng bí thư chia sẻ, đồng ý. Cuốn sách trình bày ý tưởng tài nguyên môi trường của ông được đồng nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao, được Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên quốc tế (IUCN) dịch ra tiếng Anh và xem đó như một "cẩm nang" về bảo vệ môi trường.

Giáo sư Võ Quý thường xuyên trăn trở: "Phải làm gì để không chỉ giữ gìn mà còn phát huy những giá trị tốt đẹp của môi trường". Là người đồng sáng lập, làm phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm hai chương trình quốc gia về môi trường từ năm 1981 đến năm 1990, giáo sư Võ Quý đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc đề xuất các chính sách phát triển bền vững.

Năm 1994 khi thuyết trình tại hội nghị Chiến lược toàn cầu về môi trường tại Canada, giáo sư Võ Quý đã làm cả hội trường ngạc nhiên trước bài tham luận:  "Bảo vệ rừng cần có sự tham gia của cộng đồng". Theo quan điểm của ông: "Muốn giữ rừng thì phải hợp tác với dân "phải thực hiện cho được mỗi người dân là một kiểm lâm viên". Theo ông "Nếu dân thiếu ăn thì phải giúp họ vay vốn để làm ăn, giúp học nghề tạo việc, bày cho họ cách kết hợp trồng rừng, bảo vệ động vật hoang dã với nuôi tôm, cá, cua, ong... để lấy lại cân bằng sinh thái".

Giáo sư Võ Quý cũng là người chịu khó lặn lội lên các vùng rẻo cao hẻo lánh, đi sâu vào các vùng đồng bào dân tộc. Vừa đẩy lùi những hành vi phá rừng cũ, vừa biến họ thành những chủ nhân tích cực xây dựng, bảo vệ phát triển rừng. Chính giáo sư Võ Quý đã lấy mảnh đất quê hương Hà Tĩnh của ông để minh chứng cụ thể cho luận điểm của mình. Ông đã xắn quần lội ruộng, tư vấn cho người dân tỉnh Phú Thọ cách làm thủy lợi, trồng rừng tạo nên một môi trường sinh thái điển hình của cả nước.

Năm 1989 giáo sư Võ Quý đã được UBND tỉnh Phú Thọ trao tặng Huy chương Hùng Vương - phần thưởng cao quý nhất dành cho người có công lớn với địa phương. Sau đó mô hình này đã được triển khai rộng nhiều nơi trong cả nước như Sân chim (Đồng Tháp), Khu bảo tồn hoang dã (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) Xuân Thủy (Nam Định) An Giang, Kiên Giang... Ông còn dành nhiều tâm sức để nghiên cứu đa dạng sinh học, các loài bị đe dọa tuyệt chủng, thiết lập và quản lý các khu bảo tồn, giúp đỡ  các cộng đồng địa phương sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên để phát triển bền vững.

Với vai trò là người cố vấn, giáo sư Võ Quý đã góp phần to lớn vào thành công của dự án "xóa đói giảm nghèo" cho nhân dân 137 xã thuộc 9 huyện tỉnh của Hà Tĩnh, do Ngân quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD) tài trợ (dự án đầu tiên của Liên hiệp quốc thực hiện tại Việt Nam mà hầu như không có chuyên gia nước nào tham gia).

Phan Thế Cải

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.