Về rừng miền Đông nhớ Lý Văn Sâm

Đầu thu chúng tôi lại có dịp về với “Mã Đà sơn cước”, nơi sinh ra tác giả “Kòn Trô” nổi tiếng. Cứ mỗi lần nhớ tới nhà văn Lý Văn Sâm là trong tôi hiện lên hình ảnh một vị thiên sứ từ chín tầng mây bay xuống trần gian nở nụ cười hiền lành thân thiện và hoá hiệp sĩ tung vó ngựa oai phong ngang dọc khắp rừng miền Đông Nam Bộ đất đỏ kỳ bí.

“Mã Đà sơn cước” ở Đồng Nai là vùng rừng núi với nhiều huyền thoại. Rừng thấp âm u ẩn chứa nhiều vỉa tầng văn hoá làm say mê những ai thích khám phá. Với từng cánh rừng, từng ngôi làng và cả thác nước thủy điện Trị An ở “Mã Đà sơn cước”, Lý Văn Sâm cùng với các vị tướng yêu văn hóa như Nguyễn Bình, Huỳnh Văn Nghệ, Bùi Cát Vũ… cũng là những huyền thoại.

Đặc biệt, Mã Đà từ lâu là nguồn cảm hứng bất tận cho nhà văn Lý Văn Sâm. Ông không chỉ là người tạc dựng nên nhân vật bất tử Kòn Trô với truyện ngắn đường rừng cùng tên từ nguyên mẫu chính bản thân mình, mà tôi có cảm giác từ trong lập trình số phận của tạo hoá, ông cũng đích thực là Kòn Trô, tức “con Trời”, giang hồ lưu lạc xuống trần thế hành hiệp, để rồi khi sứ mệnh hoàn thành lại biến mất trong mây bay gió lượn, chẳng quan tâm mình lưu lại gì với đời thường đua tranh hỗn tạp.

Một hành trạng phong phú và kỳ lạ

Cuộc đời Lý Văn Sâm là một hành trạng kỳ lạ trong một tính cách kỳ lạ, với một sự nghiệp cũng hết sức lạ kỳ của một nhà văn tài hoa, một tinh thần đại nghĩa sinh từ hào khí núi sông Đồng Nai, một không gian văn hoá mang đặc thù riêng. Và nhà văn Lý Văn Sâm chính là một trong những “sản phẩm” tiêu biểu kết tinh từ văn hoá Đồng Nai lẫn miền Đông Nam Bộ.

Đồng thời, Lý Văn Sâm cũng là nhân vật hội đủ mọi tính cách điển hình và độc đáo của người phương Nam, người Sài Gòn, mà càng tìm hiểu chúng ta càng phát hiện nhiều điều bất ngờ thú vị. Từ lòng yêu nước với tinh thần Lục Vân Tiên trước bóng đêm ngoại xâm đã đưa Lý Văn Sâm trở thành một người cộng sản tranh đấu hàng đầu trên mặt trận văn hoá, nhưng bản tính sống độc lập, tự do, phóng khoáng, ẩn dật, bất cần danh lợi vốn hình thành từ lúc còn là cậu bé rừng xanh “thâm u và cao cả” vẫn chi phối suốt cuộc đời sôi động, phong phú, luôn xê dịch của ông.

Nhà văn Lý Văn Sâm (1922-2000).
Nhà văn Lý Văn Sâm (1922-2000).

Đối với văn chương, Lý Văn Sâm là cây bút đa năng, viết nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, thơ, bút ký, tạp văn, kịch, tuồng, cải lương. Cảm hứng từ quê hương văn học ở núi rừng Biên Hoà - Đồng Nai, nhưng sự nghiệp văn chương của Lý Văn Sâm lại chủ yếu gắn liền với thành phố Sài Gòn - nơi ông dấn thân tranh đấu bằng cây bút và khẳng định được tài năng, vị thế của mình trên văn đàn.

Ngược dòng lịch sử văn học trước năm 1945, nếu như Lan Khai và Thế Lữ là hai cây bút “chủ soái" về thể loại truyện đường rừng ở miền Bắc, thì ở miền Nam chỉ có Lý Văn Sâm giữ vị trí độc tôn với những truyện ngắn như: “Cây nhị sông Phố”, “Kòn Trô”, “Thần Ngư động”…

Sau Cách mạng Tháng Tám, tại trung tâm Sài Gòn, với tư cách chiến sĩ bí mật tranh đấu công khai trên báo chí, nhà văn Lý Văn Sâm đã tiếp tục viết và lách, phát huy thế mạnh chủ yếu là chuyện đường rừng để gián tiếp thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và chống lại các thế lực cường quyền, ngoại xâm. Đây là chặng đường sáng tác mạnh mẽ, sung sức nhất của ông với 35 truyện ngắn, 16 truyện vừa, 11 vở kịch. Trong đó, về truyện ngắn tiêu biểu như: “Thâm u và cao cả”, “Xác Mu Mi trên núi đá”, “Răng Sa Mát”, “Mũi Tổ”, “Ngăn rạch bắt sấu”, “Rồng bay trên núi Gia Nhang”, “Sương gió biên thuỳ”, “Nắng bên kia làng”; truyện vừa có: “Chiếc vòng ngọc thạch”, “Sau dãy Trường Sơn”, “Nợ nước thù nhà”, “Đất khách”, “Nga và Thuần”, “Vợ tôi người dân tộc thiểu số”,…

Không chỉ chiếm lĩnh trường văn trận bút Sài Gòn từ năm 1947 đến 1954, mà sau đó nhà văn, nhà báo Lý Văn Sâm còn tiếp tục dùng ngòi bút tài hoa, dũng cảm của mình trong cuộc đối đầu không cân sức và trực diện với chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm đứng đầu. Đỉnh điểm là truyện ngắn “Chuông rung trên tháp đổ” với nhiều hình tượng ẩn ý của ông đăng trên đặc san “Dân Tộc” vào Tết Bính Thân 1956 gây chấn động dư luận.

Cũng vì sức lan tỏa của truyện ngắn “Chuông rung trên tháp đổ” mà nhà văn Lý Văn Sâm bị kẻ thù bắt tống giam và cùng hàng trăm đồng chí của mình tổ chức vượt ngục nhà lao Tân Hiệp ở Biên Hoà. Lý Văn Sâm may mắn thoát ra chiến khu, trong khi người bạn thân thiết Dương Tử Giang cũng là nhà văn, nhà báo cùng nhiều người khác đã ngã xuống trước làn đạn truy kích của đối phương. Từ đây, ông trở thành một trong những yếu nhân xây dựng lực lượng văn nghệ giải phóng, giữ nhiều trọng trách, dọc ngang khắp chiến khu miền Đông và cả Nam Bộ cho tới ngày đất nước hoà bình, thống nhất.

“Con Trời” u uẩn giữa rừng xanh

Quê nội nhà văn Lý Văn Sâm ở làng Bình Long, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà, nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Còn quê ngoại ông ở làng Tân Nhuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà, nay thuộc thị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Lý Văn Sâm chào đời ở quê ngoại làng Tân Nhuận và gắn bó với nó gần suốt thời ấu thơ, nên về sau trong nhiều trang viết của mình ông hay nói tới ngôi làng nhỏ này nằm bên hữu ngạn dòng sông Bé - một phụ lưu của sông Đồng Nai.

Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ lạ khi chỉ một khúc sông Đồng Nai mà hai bên bờ của nó với những làng mạc vốn xa xôi heo hút đều thuộc quận Tân Uyên xưa lại sinh ra bốn nhà văn danh vang thiên hạ: Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm và Hoàng Văn Bổn. Trong đó, Lý Văn Sâm là người có mối quan hệ đặc biệt và khác biệt với từng người trong cả ba nhà văn đồng hương. Ngoài Bình Nguyên Lộc thì Lý Văn Sâm cùng hai nhà văn còn lại đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Lý Văn Sâm đã góp phần làm rạng danh văn hoá Đồng Nai và chính hào khí sông núi quê hương và ký ức tuổi thơ đã hun đúc nên con người, tính cách và sự nghiệp của tác giả “Kòn Trô”. Từng trò chuyện với ông lúc còn sống, ông cho hay: “Đến năm bảy tuổi, tôi mới có dịp ra thị trấn Tân Uyên, nên từ nhỏ tôi đã có tâm hồn ẩn dật. Tôi cứ ngồi bó gối ở trong nhà bà ngoại, thấy xe hơi chạy, ao ước có lúc mình được ngồi trên chiếc xe đó. Ông già tôi làm kiểm lâm và lãnh tiền xâu trả cho công nhân đốn cây. Từ nhỏ, tôi ở với bà ngoại, không có điều kiện trò chuyện với ai. Tôi trở thành cậu bé hết sức cô đơn.

Một lần nhà bị cháy, gia đình ngoại tôi chạy từ rừng về, tưởng tôi bị chết cháy trong đó rồi. May có cô câm giúp việc tên là Quơn la ú ớ rồi nhảy vô cứu tôi. Nếu không có cô ấy thì bây giờ tôi chẳng còn. Lúc bảy tuổi, tôi đã biết tiếng Tây do cha tôi dạy. Hoàn cảnh sống ở chốn rừng núi âm u làm tôi hay bất mãn, chống sự bất công xã hội và thích ẩn dật”.

Vì mẹ phải tảo tần buôn bán quanh năm từ quê ra tận tỉnh thành Biên Hoà, Sài Gòn nên bà ngoại trở thành người mẹ thứ hai trong suốt bảy tuổi đầu của Lý Văn Sâm trước khi đến trường. Phong cảnh núi rừng mênh mông thâm u đầy bí ẩn đã ăn sâu vào ký ức tuổi thơ ông như sau này nhà văn tự thuật lại trong truyện ngắn tâm đắc “Nắng bên kia làng”: “Tôi lớn lên giữa một vùng thiên nhiên phóng khoáng, bên những người thân yêu mộc mạc, xa ánh sáng văn minh, xa tiếng nói của thị thành. Và như thế trọn bảy năm. Tâm hồn tôi là tâm hồn của những đứa trẻ nhút nhát run sợ trước cảnh bão tố đè rạp rừng già, thổi tốc mái nhà tranh khiến phần đông người trong xóm nheo nhóc như lũ chim mất ổ”.

Sinh ra trong gia đình tương đối khá giả ở vùng quê nghèo heo hút chốn núi rừng, Lý Văn Sâm đã được cha mẹ nuôi dạy ăn học với mong ước thành tài. Từ bậc tiểu học đến trung học ông trải qua các trường ở Biên Hoà, Sài Gòn rồi ngược ra tận xứ Huế. Trong bài “Tôi viết văn” đăng trên báo Sống Mới số xuân năm 1950 ở Sài Gòn, nhà văn Lý Văn Sâm tự thuật:

“Tôi vốn có khiếu văn chương từ năm tôi ngồi lớp Nhất trường Biên Hoà. Tôi giỏi Việt văn là lẽ cố nhiên, nhưng tôi không có mộng trở nên văn sĩ sau này. Hồi ấy, tôi rất thích quyển “Lời hoa” của Trí Đức văn đoàn Đông Hồ tiên sinh ở Hà Tiên xuất bản. Tôi thích quyển ấy vì những ngọn gió quê, của những đồng lúa Tân Ba Biên Hoà thổi vào lòng tôi một cảm giác thơm ngọt ngọt và khởi cho tôi hồn văn của tôi một hứng thú mới. Lạ có một điều khi tôi lên học năm thứ nhất trường Lê Bá Cang, tôi không viết văn nữa. Có lẽ vì ông giáo Việt văn Trần Văn Hoàng (không phải là ông Nam Vân) hồi ấy đã khiến cho giờ học chúng tôi thành ra buồn tẻ nên chúng tôi chán là phải”.

Sau đó, Lý Văn Sâm dự định ra Hà Nội học nhưng số phận đưa ông dừng chân ở Huế học trường Hồ Đắc Hàm. Cảnh sắc thơ mộng sông Hương núi Ngự đã khơi hứng trở lại tình yêu văn chương trong tâm hồn lãng mạn của chàng trai núi rừng miền Đông đất đỏ. Rời xứ Huế trở về quê nhà, Lý Văn Sâm được cha giao cai quản lò than ở Trị An.

Thiếu vắng bạn bè, xung quanh chỉ cỏ cây, nước non, ghềnh thác. Buồn, cô đơn, cây bút và trang giấy trắng tình cờ trở thành người bạn tâm tình. Chàng trai của chốn núi rừng lao vào viết và viết để tự giải toả nỗi lòng. Viết bằng bản năng. Viết bằng mắt thấy tai nghe giữa thiên nhiên “thâm u và cao cả”. Viết bằng trí tưởng tượng thăng hoa “liên tài” với sự trải nghiệm của ký ức u huyền, bí ẩn… để rồi những trang văn đường rừng ly kỳ lần lượt xuất hiện quyến rũ bao thế hệ bạn đọc.

Cùng với Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm được các nhà nghiên cứu văn học đánh giá là một trong hai cây bút xuất sắc nhất ở miền Nam giai đoạn 1945-1954.

Hoàng Thủy

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.