Về lại Triều xem làm hương sạch

Vào năm học lớp 10 (hệ 10 năm) để tập trung cho việc học hành, ngày đó thế hệ chúng tôi phải trọ học, bởi trường quá xa nhà. Tôi trọ học ở nhà Thanh, bạn học cùng khóa. Thanh người làng Thuyền Đỗ, thuộc xã Thụy Phúc nơi trường cấp 3 Tây Thụy Anh (bây giờ là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) đứng chân.

Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in cái buổi sáng đầu tiên mở đầu cho chín tháng trọ học. Sáng ấy, trong lúc mắt nhắm mắt mở, cảm giác đầu tiên của tôi là thoảng trong cái không gian làng quê dân dã, thanh bình là thứ hương thơm ngan ngát dịu dàng. Và, nó e ấp vừa như có thực, lại vừa như không nhuốm màu cổ tích, khiến cho người ta rơi vào trạng huống nửa tin, nửa ngờ. 

Hiểu được cảm giác của bạn, Thanh giải thích, đấy là hương thơm đặc trưng của rễ cây bài được trộn với bột bã mía, cùng “món” tâm sen - những thứ nguyên liệu quan trọng bậc nhất để làm hương (nhang) từ làng Lai Triều bên cạnh rong ruổi sang Thuyền Đỗ mỗi bình minh. Làng Lai Triều thuộc xã Thụy Dương, Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Từ hơn 300 năm nay, các thế hệ người Lai Triều chỉ thực hiện việc làm hương bằng phương pháp thủ công truyền thống.
Từ hơn 300 năm nay, các thế hệ người Lai Triều chỉ thực hiện việc làm hương bằng phương pháp thủ công truyền thống.

Thanh háo hức kể, làng Lai Triều có nghề làm hương gia truyền từ hàng mấy trăm năm nay, nổi tiếng nhất nhì vùng châu thổ sông Hồng. Để minh họa cho điều mình nói, Thanh cao hứng làm bộ cụ non cất giọng lẩy Kiều, vẻ như trải đời lắm; mà cũng mơ màng lãng mạn lắm:

Mía Thu Cúc;  thóc Trường Sơn,
Khoai Bái Thượng; hương thơm Lai Triều
!”

Người đàn ông đầu tiên của thôn Lai Triều mà tôi gặp là bác Phạm Văn Khoa,  vốn có dây mơ rễ má với đằng ngoại của mẹ Thanh. Kể về cái “lý lịch trích ngang” nghề làm hương, ông Khoa tự hào bảo, làng Lai Triều có “căn duyên” với nó từ thế kỷ thứ XVIII. Người khai nghiệp cho bà con Lai Triều là cụ Bùi Nhân Toàn. Thật ra, địa chỉ bản quán của cụ Bùi Nhân Toàn, cả làng Lai Triều đều không một ai tỏ tường. 

Nhưng người Lai Triều lại nhớ rất rõ, hôm đó là một ngày đẹp trời của năm 1720, cụ Toàn bỗng xuất hiện với cỗ tay nải trên vai, cứ như trong sương khói huyền thoại bước ra. Lúc đi ngang qua làng Lai Triều, thấy đất đai màu mỡ rất “hợp tạng” với loài cây bài, cụ Toàn liền tạt vào làng xin nước uống.  Gặp lúc mặn chuyện với người trên kẻ dưới, cái ông lão như từ trên trời vén mây bước xuống ấy đặt vấn đề xin được “ăn nhờ ở đậu” với bà con làng Lai Triều.

Được các bậc tiên chỉ của làng một lòng đồng thuận, cụ Toàn chính thức trở thành “con dân” của làng Lai Triều. Ngay sau đó,  ông lão bày cho dân Lai Triều cách trồng cây bài với mục đích lấy nguyên liệu làm hương. Từ đó, ngoài việc đồng áng, người làng Lai Triều có thêm nghề làm hương để giải bài toán miếng cơm manh áo.  

Một ngày nọ, khi thấy người Lai Triều đã thạo cách trồng cây bài; thuần thục với công việc làm hương, bấy giờ cụ Bùi Nhân Toàn mới thanh thản rũ áo bụi trần rời cõi tạm vân du về trời. Tưởng nhớ công ơn trời biển của người, dân làng Lai Triều lập đền thờ, tôn cụ Bùi Nhân Toàn làm đức thánh Thành hoàng làng.

Có một điều rất đặc biệt, người Lai Triều không bao giờ dùng trầm như một thứ nguyên liệu phụ gia số một để tạo nên “thương hiệu” riêng cho sản phẩm của mình.  Và nữa, trong khi thiên hạ dùng rễ cây bài để chuyên làm ra loại hương bài quấn giấy bản, người Lai Triều lại dùng nó (rễ bài) là một trong những thành phần cơ bản làm ra một cây hương mang “bản sắc” riêng biệt của họ.

Người Lai Triều cho rằng, tinh chất rễ cây bài của họ “trên tài” loại rễ cây cùng loại của thiên hạ chính là nhờ những tính chất khu biệt có trong thứ đất cát pha thịt luôn mềm mại, tơi xốp. Và cùng với đó là nguồn nước tưới tự nhiên, nhưng cũng rất đặc biệt của họ. Lạ sao, cùng trên địa bàn xã Thụy Dương (và các thôn, xã giáp ranh) cũng là đồng đất thôn quê thân thuộc đó, song phải là rễ cây bài được trồng ngay trên chính đất làng Lai Triều mới cho ra được thứ hương liệu mang nét duyên riêng có duy nhất.

Có lẽ bởi thế cho nên, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà cách đây hơn  300 năm, bậc cao nhân Bùi Nhân Toàn lại chỉ chọn Lai Triều này là địa chỉ dừng chân cuối cùng trong cuộc hành trình “trên từng cây số” của mình để truyền nghề cho dân nghèo. Phải chăng lúc đó ông tổ nghề hương của Lai Triều cho rằng, chỉ có đất và người làng này mới “đủ tư cách” cho ra đời những nén hương mang giá trị đặc biệt chăng?!

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hấng thổ lộ, xưa nay, người thiên hạ thích dùng hương Lai Triều là bởi lý do: mùi hương đặc trưng, thơm ngào ngạt song lại không nồng nàn khiến cho người ta cảm thấy khó chịu, ngột ngạt bởi cảm giác “điếc mũi”, dễ gây ô nhiễm. Lão nghệ nhân ấy thủng thẳng giải thích, có được điều đó là bởi, toàn bộ nguyên liệu làm hương chỉ hoàn toàn là cây cỏ tự nhiên, chốn hương đồng gió nội vô cùng thân thuộc, dân dã.

Rễ cây bài sau khi được làm sạch; làm khô xong sẽ đem tán thành bột mịn. Còn bã mía, nhất định cứ phải là “cái anh” mía làng Thu Cúc, xã Thụy Hưng bên cạnh.  Bã mía cho vào máy (xưa là giã tay) nghiền thành bột sau đó đem phơi thật khô, bảo quản kỹ, dùng dần. Với người Lai Triều, để có được một que hương thơm vừa lòng tất cả mọi tầng lớp khách hàng, nhất định không thể thiếu cái món tâm sen - một trong những thứ tinh túy nhất của loài sen cao quý, thanh tao.

Rễ cây bài - nguyên liệu cơ bản hàng đầu làm nên thương hiệu hương Lai Triều.
Rễ cây bài - nguyên liệu cơ bản hàng đầu làm nên thương hiệu hương Lai Triều.

Riêng khoản tre để làm tăm hương, cứ phải là loại tre bánh tẻ. Có thứ  tre “chuẩn không cần chỉnh”, đem cắt thành từng khúc.  Tiếp đến chẻ khúc tre đó thành từng cây tăm, mang đặt lên trên gác bếp. Lửa và khói bếp sẽ làm khô dần những que tăm hương. Nghệ nhân Hấng kể, chỉ riêng có món nhựa trám, người Lai Triều buộc phải cất công lặn lội đặt mua của bà con vùng núi phía Bắc.

Để có một cây (nén) hương, người Lai Triều trộn đều bột rễ cây bài và bột mía với nhau. Việc pha trộn hai nguyên liệu trên như thế nào để đạt chuẩn chính là cái cách bí truyền hơn 300 năm nay của người Lai Triều. Sau đó, người ta lấy những cây tăm tre sau khi đã được phủ một lớp bột than đen cùng nhựa trám mà lăn đều qua lại với hỗn hợp bột mía và rễ cây bài. Người Lai Triều thực hiện công đoạn nói trên hoàn toàn bằng phương pháp thủ công truyền thống thành ra sự tỷ mỉ và kỹ thuật cao của người nghệ nhân là vô cùng quan trọng.

Kể từ thuở đấng tổ nghề Bùi Nhân Toàn dạy cho người Lai Triều cách làm hương, dẫu có bị áp lực cung cầu khủng khiếp tới nhường nào, song  họ cũng không bao giờ sử dụng phương pháp sấy khô sản phẩm bằng mọi thủ thuật, mánh lới. Với người Lai Triều, sản phẩm sau khi làm ra chỉ được mang phơi khô tự nhiên nhằm mục đích để cây hương đạt độ thơm thuần khiết nhất nhờ sự kết hợp giữa TRỜI và ĐẤT; giữa ÂM và DƯƠNG.

Thời đại công nghệ số, ở rất nhiều làng nghề chuyên sản xuất hương truyền thống, với mục đích “nhàn thân” và đặc biệt là vì muốn nâng cao năng suất lao động, người ta đã áp dụng dụng hình thức “công nghiệp hóa; hiện đại hóa” trong quá trình sản xuất. Vậy nhưng ở Lai Triều, đời truyền kiếp, bà con vẫn cứ duy trì phương pháp thủ công. Phải chăng là người Lai Triều “bảo thủ” và muốn duy trì lối sống... “chậm” truyền thống?!

Hóa giải cho điều thắc mắc nói trên của tôi, chị Phan Thị Thoan giải thích: "Người Lai Triều dùng nhựa trám để làm hương. Mà nhựa trám rất dẻo, do vậy, nếu sử dụng máy móc, nhựa sẽ bám vào máy khiến chúng không thể hoạt động được. Mới lại, hương làm thủ công, không những tất cả các nén (cây) đều chặt chẽ, cứng cáp  mà còn rất mịn, nén nào “ra hồn” nén ấy. Còn nếu làm hương theo kiểu công nghiệp, độ nóng của máy móc sẽ vô tình làm cháy hết hương liệu vốn chỉ là cây cỏ tự nhiên. Như vậy khi hương được đốt lên sẽ không còn mùi thơm tự nhiên của các thứ nguyên liệu dân dã nữa!”.

Trả lời câu hỏi: “tại sao người Lai Triều lại “dị ứng” với các loại phụ gia hóa chất công nghiệp nhằm tạo mùi hương cho sản phẩm của mình”, chị Bùi Thị Thao thật thà đáp: “Đức tổ nghiệp của làng dạy chúng tôi rằng, “đừng vì mình mà làm khó cho người!”. Muốn có được nén hương thơm vừa tâm ý với ta để khiến người khác hài lòng thì, phải làm ra nó bằng chính cái tâm; cái tình của mình! Có đức mặc sức mà ăn, anh ạ!”. Dứt lời nghệ nhân Bùi Thị Thao nhoẻn một nụ cười thuần khiết, hồn hậu.

Ra là vậy, vì trân trọng nâng niu đạo đức làng nghề nên người Lai Triều không bao giờ vì lợi ích cá nhân mà làm trái với đạo lý bằng việc sử dụng hóa chất trong quá trình làm hương nhằm tạo ra mùi hương quyến rũ giả tạo cho sản phẩm. 

Mặc cho thời buổi kinh tế thị trường đầy những náo hoạt, xô bồ này không thiếu những góc khuất màu xám, hơn 300 năm qua, người Lai Triều vẫn chỉ toàn tâm toàn ý làm ra những nén hương mang hương vị tinh khôi thuần khiết của đồng quê; của núi rừng để giữ cho được “nếp nhà”, “nếp nghề” truyền thống, ấy vậy!

Lê Công Hội

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.