Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nam Cao (1915-2015)

Văn chương thăm thẳm phận người

Thoạt tiên, tôi định đặt tên cho bài viết về Nam Cao là "Nhà văn của nước mắt và bi kịch". Nhưng lại thấy văn Nam Cao không chỉ có nước mắt và bi kịch. Văn ông còn có cả hài kịch, có niềm lạc quan hướng tới điều tốt đẹp, tươi sáng... Nhưng cái lối văn hiện thực và lạ lùng ấy cho ta thấy có gì thăm thẳm trong văn chương về những phận người...

Cái làng Đại Hoàng của Nam Cao ở Lý Nhân, Hà Nam nổi tiếng bởi đó là xứ sở của món cá kho xuất khẩu và là quê hương của cây chuối ngự đặc sản tiến vua. Nhưng nổi tiếng hơn, vĩ đại hơn, đó là nơi sinh ra một nhà văn thiên tài. Không thiên tài làm sao một người trai quê đồng chiêm trũng nghèo khó mới 20 tuổi lang bạt vô Sài Gòn làm nghề may, rồi về quê dạy học và viết văn mà văn chương mới mẻ lạ lùng như thế. Không thiên tài làm sao sống cùng khổ trong bối cảnh xã hội thời trước tăm tối khó nghèo như thế mà tư tưởng và nghệ thuật văn chương đến hàng đỉnh cao, mang tư tưởng nhân văn, nhân loại?

Đồng hành với những số phận cùng cực

Trong truyện ngắn "Đôi mắt", Nam Cao chua chát bộc lộ thân phận mình: "Khi chúng tôi đến nỗi chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu. Con chó của anh chưa phải nhịn bữa nào". Rõ ràng trong xã hội cũ, thân phận con người dưới ngòi bút Nam Cao quá thê thiết. Nhưng Nam Cao đâu chỉ viết về bi kịch của kiếp người nghèo đói. Sâu sắc hơn, nhân văn là khi nhà văn phát hiện những phần đau đớn khác cũng dữ dội vò xé trong bi kịch tâm hồn những người cùng khổ, những lão Hạc, Chí Phèo, một số nhân vật trong "Sống mòn"…

Nhà văn Nam Cao.
Nhà văn Nam Cao.

Nhưng tất cả những bi kịch, những cái chết thể xác và tinh thần ấy lại thể hiện khát vọng đòi được sống. Trong những tác phẩm viết về người nông dân, ông trực tiếp lên án giai cấp thống trị đã đẩy thân phận những người dân tội nghiệp đến con đường tha hóa mà nguyên nhân của bi kịch ấy là do hoàn cảnh xã hội. Hẳn trong những con chữ đau đớn ấy, chúng ta thấy được tâm trạng, tình cảm của nhà văn với các nhân vật. Ông nhìn đời bằng con mắt yêu thương nhân hậu.

Cuộc đời tưởng là bế tắc, nhưng trong những con người cùng khổ ấy vẫn cháy âm ỉ ngọn lửa khác, hướng đến sự lương thiện theo nghĩa Con Người. Và những giọt nước mắt xuất hiện. Nhưng không phải nước mắt bi lụy khóc thương, mà có lẽ đó là biểu hiện điều thánh thiện nhất của kiếp người.

 Truyện ngắn có tên "Nước mắt" thật… đẫm nước mắt. Nhà văn Điền đã khóc, những giọt nước mắt đắng cay tủi nhục bế tắc của lớp người trí thức vốn nhạy cảm và dễ tổn thương phải tồn tại trong môi trường xã hội đầy rẫy bi kịch. Mỗi nhân vật đầm đìa nước mắt "Vì người nào cũng khổ cả. Vì người nọ cứ tưởng vì người kia mà khổ"… Những truyện ngắn "Lão Hạc", "Chí Phèo", "Đời thừa", "Trăng sáng", tiểu thuyết "Sống mòn"… cho thấy văn Nam Cao chan chứa nước mắt. Nước mắt của cay đắng kiếp người, tủi cực phận người…

Ấn tượng về nước mắt trong truyện Nam Cao trước Cách mạng được xem như một cách trình bày của nhà văn về cuộc đời. Ông trình bày những chủ đề xoay quanh vấn đề cơm áo, nhưng ông không chỉ kêu cứu lấy người đói khổ, mà phải cứu lấy nhân phẩm con người đang bị miếng ăn và đói khổ làm cho tha hóa, mất mát… Mô tả bi kịch và nguyên nhân của bi kịch là do hoàn cảnh xã hội đẩy xô vào tăm tối dẫn đến lưu manh tha hóa.

Truyện "Một bữa no" là tiếng khóc xé lòng. Miêu tả một bà lão sau khi phải nhịn đói mấy ngày nên bà hờ gọi con và khóc suốt đêm. Đến khi không khóc nổi nữa, bà bỗng dưng tỉnh ngộ: Bà nghĩ ra cách đi ăn rình bà Phó Thụ một bữa. Bằng mọi giá bà phải được một bữa no dẫu bị bà Phó khinh miệt nhục mạ… Bà ăn vội ăn vàng lập cập như chưa bao giờ được ăn.Viết một cách dửng dưng vậy, nhưng sau trang văn lại đẫm nước mắt xót thương những cảnh đời vì đói khát mà phải nhận lấy cái nhục nhã tinh thần, quên cả nhân cách.

Truyện "Chí Phèo" có lẽ là bi kịch vĩ đại nhất về kiếp người. Tấn bi kịch đau đớn nhất của kiếp người nông dân trong xã hội ấy. Cố nông Chí Phèo thoạt tiên là người lương thiện, từng khát khao "một gia đình nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm". Nhưng đâu có được, Bá Kiến đại diện cho lớp người có quyền uy ở cái làng Vũ Đại ấy đã đẩy Chí Phèo vào tù thực dân và từ đó biến người cố nông lương thiện thành kẻ lưu manh. Chí Phèo khật khưỡng giữa đường làng và chửi.

Chí chửi tất: Chửi Trời, chửi Đời, rồi chửi cả cái làng Vũ Đại, cả người nào đã đẻ ra hắn… Tiếng chửi kia chính là tiếng khóc tội nghiệp của một tâm hồn méo mó bị đời đẩy đến tận cùng đau đớn… Nhưng Chí Phèo chưa bao giờ là kẻ ác, dẫu có lúc đi cướp giật, hay xin đểu. Anh ta đâu có mưu mô gì để hại người khác. Cái ác trong truyện của Nam Cao chỉ có thể là của kẻ ăn trên ngồi trốc, lắm tiền nhiều mưu.

Điều trái khoáy là hình như Chí luôn ám ảnh mình là đứa bất lương nên gã đã đòi lương thiện. Cái đau khổ của Chí không phải là vật chất và tinh thần như người đời vẫn gán cho. Mà cao hơn, chính là cái khổ của kiếp người, là dằn vặt của bản thể Người của gã.…

Một đời văn day dứt những phận người

Còn khóc được thì đó là biểu hiện của con người. Nhân tính vẫn còn mới có thể biết đau, biết khóc. Cái cách nhìn đời nhìn người hết sức đúng đắn ấy xuất phát từ tình thương yêu con người, từ chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc. Gắn cuộc đời mình với những người cùng khổ, văn Nam Cao đụng đến số phận bi thương, bần cùng của kiếp người. Nhân sinh quan, hay nôm na là với con mắt nhân đạo, Nam Cao không chỉ phản ánh bi kịch đói nghèo, mà nhìn sâu vào cái bi kịch tinh thần cũng rất dữ dội trong lòng những con người cùng khổ.

Góc kỷ vật của nhà văn Nam Cao ở quê hương Lý Nhân - Hà Nam.
Góc kỷ vật của nhà văn Nam Cao ở quê hương Lý Nhân - Hà Nam.

Dẫu thế nào thì cái nhân tính trong mỗi con người, qua văn Nam Cao đã được cứu rỗi. Thế giới nội tâm nhân vật được ông mổ xẻ phân tích một cách sâu sắc. Tiếng khóc hu hu của lão Hạc là tiếng khóc của người cùng quẫn cả đời thật thà mà cuối cùng đi lừa con chó của mình. Việc bán con chó là việc hệ trọng trong đời nên lão khóc, khóc cậu Vàng hay khóc cho đứa con trai, khóc cho chính mình. Trong thê thảm nước mắt, lấp lánh một điều gì đó như là vẻ đẹp của bậc chí thiện, vẻ đẹp của những tâm hồn khát khao được làm người lương thiện.

Suốt cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn mang niềm day dứt về phận người… Tôi đồ rằng Nam Cao trong vô thức đã manh nha một tinh thần triết học mới mẻ. Trạng thái Tồn tại và ý thức về sự tồn tại ấy đã là cách phổ quát cao trong văn ông, tự nó mang ý nghĩa triết học sâu sắc. Và văn chương thế ấy, xứng bậc thiên tài… Lý tưởng của Nam Cao đã thể hiện ngay trong những trang văn hiện thực. Và ông dùng chính cuộc đời mình, tự nguyện tham gia giải phóng. Ông đã làm cuộc dấn thân triệt để, từ anh Chủ tịch xã, Chủ nhiệm Việt Minh, tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám tại địa phương đến thành một trong những nhà văn đầu tiên trong đội hình Văn hóa Cứu quốc, rồi xung phong trong đoàn quân Nam tiến, rồi lên Việt Bắc làm báo kháng chiến, tình nguyện thọc sâu vùng địch hậu làm thuế vụ và đã ngã xuống như một người lính trước trận tiền…

Nam Cao - Nhà văn của những mảnh đời bất hạnh. Với lý tưởng sống nghiêm túc, với tư duy sáng tạo và tài năng chữ nghĩa, tác phẩm của ông đã đạt đến tầm hiện đại và hoàn bích, đưa ông lên tầm những nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ và tài năng, sánh với những nhà văn lớn nhất của đất nước.     

Vâng! Cuộc sống, chính cuộc sống mà đại diện là cái làng Đại Hoàng nhỏ bé tăm tối một thời thuộc tỉnh Hà Nam ấy đã cống hiến cho đất nước một nhà văn lớn, nhà văn của mọi thời đại.

Hà Nội, 2015

Tân Linh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.