Đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp:

Từ Tiểu đoàn 307 đến những thước phim kháng chiến

Mỗi lần nghe câu hát: "Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang, Cửu Long Giang sóng trào nước xoáy...", ký ức về Tiểu đoàn 307 dội về với ông hào hùng, bi tráng. Lần gặp gỡ ngẫu nhiên với một anh chiến sĩ quay phim trong đơn vị như định mệnh đưa đẩy Trung đội phó của Tiểu đoàn 307 oai hùng năm nào trở thành một đạo diễn tài ba của điện ảnh cách mạng. Những thước phim gắn bó với đồng đội, với những người đã ngã, mải miết trên dòng Cửu Long Giang sóng trào...

1. Mới 15 tuổi, cậu bé Nghiệp đã được bầu làm Trưởng đội Thiếu niên Tiền phong xã Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Thấy Nghiệp nhanh trí, can đảm, các chiến sĩ cách mạng đã đưa truyền đơn để cậu rải khắp làng và đồn bốt của Pháp. Có lần, Nghiệp còn nhận lựu đạn, liều lĩnh ném vào đám địch đang đi tuần tra. Chuyện bị bại lộ, địch điên cuồng vây bắt Nghiệp. Cậu bé nhanh chóng được các chiến sĩ đưa vào Khu 9 rồi sau này tham gia chiến đấu ở Tiểu đoàn 307.

Nghiệp đã được nghe nhiều về chiến công lẫy lừng của Tiểu đoàn 307 anh hùng - tiểu đoàn chủ lực của chiến khu 8. Được điều về Tiểu đoàn sau trận Mộc Hóa vang dội, lại được giữ vị trí Trung đội phó Trung đội B (rồi C), thuộc Đại đội 931, Tiểu đoàn 307, Nghiệp ngỡ ngàng. Đó là vinh dự quá lớn lao và cũng là áp lực nặng nề với một chàng trai đôi mươi chưa có nhiều kinh nghiệm trận mạc. Thế nhưng, nhìn "thành tích" của Nghiệp trước khi vào Khu, anh em chiến sĩ ai cũng vỗ vai khen: "Tay này chơi được đây".

Trận Cầu Kè năm 1949 - trận đầu tiên Nghiệp tham dự, lập tức chứng minh cho lời khen ấy. "Trận đó một chiến sĩ bắn súng máy đang xông lên thì bị thương, người chiến sĩ nạp đạn lại hy sinh. Tôi xốc ngay cây FM nã luôn một mạch vào toán địch đang dựa vào xe quân sự chống trả quyết liệt. Nhờ loạt đạn đó, toán xung kích của ta mới có cơ hội tràn lên" - đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp kể.

Đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp.
Đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp.

Trong một đêm phục kích, lần đầu tiên anh lính Nguyễn Kế Nghiệp ở cạnh một chiến sĩ quay phim tên Lý Cương. Nghiệp tròn xoe mắt và vui sướng vì đơn vị mình có phóng viên chiến trường. Lý Cương không có xẻng để đào hố cá nhân. Nghiệp cùng hai chiến sĩ đào giúp, ấn anh ta xuống rồi dùng cành cây ngụy trang.

Phục kích đến 12h trưa hôm sau, địch vẫn chưa đến. Anh phóng viên để đầu trần giữa trời nắng chang chang. Thấy vậy, Nghiệp gỡ cái nón sắt của mình đội lên đầu anh ta. Thật không ngờ, cái nón sắt đó đã cứu anh ta bởi hai vết đạn trượt qua đầu. Nghiệp tặng luôn chiếc mũ sắt. Để trả ơn, sau trận đánh, Cương chụp cho Nghiệp vài kiểu ảnh. Đáng tiếc đến nay chúng đều bị thất lạc.

Nhưng có lẽ điều ám ảnh nhất trong tâm trí người đạo diễn này là cái chết của phóng viên nhiếp ảnh, quay phim Dương Trung Nghĩa. Cái chết của người thanh niên trí thức, từ chối mọi vinh hoa phú quý ở chốn đô hội mà lăn xả vào chiến trường khói lửa với chiếc máy quay phim, đã khiến anh bộ đội Nguyễn Kế Nghiệp cảm kích.

"Trong trận chiến đấu giải phóng quận An Biên (Rạch Giá) năm 1954 của Tiểu đoàn 307, phóng viên chiến trường Dương Trung Nghĩa tham gia tác nghiệp. Tôi không xa lạ gì Nghĩa vì Nghĩa đã từng cầm máy tham gia cùng trung đội của tôi trong các trận đấu trước đó. Mỗi lần như thế, tôi lại đào hầm cá nhân giúp Nghĩa nên hai người rất thân nhau. Nghĩa dạy tôi vài kỹ thuật quay phim, tôi khoái lắm. Thỉnh thoảng, những cảnh sinh hoạt đời thường của tôi với anh em trong trung đội, Nghĩa cũng tinh nghịch ghi lại.

Hôm đó, khi quân ta hô: "Xung phong!", Nghĩa cùng anh em chạy vọt lên trước để quay lại cảnh chiến đấu. Tôi chạy sau, bỗng thấy Nghĩa đổ gục xuống. Chiếc máy quay phim rơi xuống ruộng. Tôi quên tất cả, nhào tới ôm Nghĩa. Nghĩa chưa chết, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Tôi áp tai lắng nghe nhưng đầu Nghĩa đã nghẹo xuống" - đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp rơm rớm nước mắt.

2. Năm 1954, Nguyễn Kế Nghiệp tập kết ra Bắc, thuộc lính Sư đoàn 330. Đến năm 1965, ông chuyển ngành, học Đại học Kinh tế, mặc dù ông không hứng thú gì. Tình cờ, một đạo diễn biết ông từng hoạt động ở Tiểu đoàn 307 lừng danh, lại nghe tiếng ông có tài làm thơ, sáng tác kịch hồi còn ở Tiểu đoàn nên đã mời ông về Xưởng phim Thời sự tài liệu tại Hà Nội của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Những khát khao ngày còn ở chiến trường và ký ức về đồng đội, về chiếc máy quay phim bê bết máu của Dương Trung Nghĩa đã giục ông gật đầu. Ông xin chuyển sang Xưởng phim Giải phóng, có tên giao dịch là Xưởng phim Thời sự tài liệu 2, với cương vị là biên tập, viết lời bình cho phim từ miền Nam gửi ra. Tại đây, ông học nghề làm phim dưới sự dìu dắt của nhà quay phim Khương Mễ.

Giai đoạn này có nhiều bộ phim tài liệu quay trong chiến tranh máu lửa ra đời: "Miền Nam anh dũng", "Chiến thắng Bình Giã", "Đồng Xoài rực lửa", "Đội nữ pháo binh", "Du kích Củ Chi"... Mỗi lần nhắc tới cố đạo diễn Khương Mễ, một trong những người khai sinh điện ảnh bưng biền, chiếc nôi của điện ảnh miền Nam, ông lại bày tỏ lòng biết ơn vô hạn. Sau này, tình cảm đó được gửi gắm sâu sắc trong phim tài liệu "Ông Lumiere Tháp Mười" ra đời năm 998. Bộ phim được vinh dự góp mặt ở nhiều Liên hoan phim quốc tế danh tiếng.

Có năng khiếu nên Nguyễn Kế Nghiệp học rất nhanh. Không chỉ biết cách làm phim ông còn viết kịch bản rồi làm đạo diễn. Ông được đi tu nghiệp ở Liên Xô, Nam Tư rồi theo học lớp đạo diễn phim truyện truyền hình ở Bungari từ năm 1973 đến ngày miền Nam giải phóng. Đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp về miền Nam làm ở Đài truyền hình, rồi làm việc ở Hãng phim Giải Phóng.

Đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp thời còn ở Tiểu đoàn 307.
Đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp thời còn ở Tiểu đoàn 307.­

Những bộ phim tài liệu lịch sử của ông chủ yếu xoay quanh đề tài kháng chiến bởi ký ức đời lính như: "Tiểu đoàn 307", "Hồn cố quốc", "Trận Cái Răng", "Cuộc không chiến lịch sử", "Giấy bạc Cụ Hồ ở Nam Bộ", "Biệt động Sài Gòn" … Ngoài ra còn có các phim tài liệu về các lãnh đạo cấp cao của cách mạng như: "Luật sư Nguyễn Hữu Thọ", "Hồi ức về anh Hai Phạm Hùng", "Trung tướng Võ Viết Thanh", "Đại tướng Lê Văn Dũng"… Trong đó, phải nói rằng, bộ phim tài liệu "Tiểu đoàn 307" gây được tiếng vang hơn cả bởi chính ông là người trong cuộc.

Năm 2002, Nguyễn Kế Nghiệp cùng các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 307 về lại đồn Bắc Xa Ma (Trà Vinh) để lấy lại bối cảnh cho bộ phim. Đặt chân đến đây, ông nghe tiếng bom rơi đạn nổ của trận đánh bi hùng năm xưa như vẫn vang vọng. Chợt nhớ đến Thượng sĩ người Khơ-me mà ông bắt sống trong đồn này rồi sau đó lại thả hắn tự do, ông bồi hồi buột miệng: "Không biết ông ta còn sống không?". Đột nhiên, một người đàn ông đen nhẻm trạc 70 tuổi nãy giờ đứng quan sát đoàn làm phim giơ tay lên: "Tui đây! Người đó là tui đây!". Nguyễn Kế Nghiệp nhớ ra gương mặt, khổ người nhỏ thó mà ông đã bắt được sau bức tượng Phật màu vàng. Người cựu binh Khơ-me vỗ vai ông: "Nếu 52 năm trước ông cho tôi một phát súng thì bây giờ chúng ta đâu có gặp lại nhau. Tôi nghe có người làm phim Tiểu đoàn 307 đánh Bắc Xa Ma, tôi lặn lội đến đây để giúp các ông làm phim cho đúng với lịch sử. Thiệt không ngờ lại gặp ông. Đúng là duyên trời". Nguyễn Kế Nghiệp sung sướng đến ngỡ ngàng khi trận đánh mà ông dựng lại trên phim sau 52 năm lại có được một nhân chứng sống phía bên kia chiến tuyến bất ngờ như thế này. Hai người bắt tay nhau, mừng tủi.

Bây giờ, đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông nay đã vào tuổi 84 nhưng vẫn tiếp tục tham gia viết kịch bản, làm cố vấn cho các đạo diễn trẻ mới tập tành với dòng phim tài liệu "khô khan". "Thế hệ tôi, biết bao người đã ngã, đó là thời kỳ hào hùng của nhân dân mình, mãi mãi thế hệ những người lính như chúng tôi không thể nào quên. Làm phim là cách để tôi ngược về quá khứ, tìm lại gương mặt đồng đội vào sinh ra tử, giải tỏa bao tâm tình chất chứa trong tôi. Những bộ phim cũng là gạch nối giữa thế hệ trẻ lớp trước với thế hệ trẻ lớp sau" - ông nói.

Đối với Nguyễn Kế Nghiệp, đời lính và những thước phim là hạnh phúc của ông. Thời chiến, ông cầm súng bảo vệ quê hương thì thời bình, cầm máy quay phim về chiến trường xưa, ông tri ân đồng đội đã ngã xuống, nối kết tình hữu nghị của những người đang sống, trao gửi bài học cội nguồn cho thế hệ mai sau…

Phan Thi Uyên

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.