Từ thơ thành bài hát - Đôi điều thú vị

Để tạo nên một bài hát, có khi người nhạc sĩ làm luôn lời ca, có khi tìm đến thơ để phổ nhạc. Trên thế giới, nhạc sĩ thường cộng tác với nhà thơ vì họ cho rằng nhà thơ sẽ có thế mạnh soạn ca từ. Nhưng ở nước ta, gần như không có cặp nhạc sĩ – nhà thơ nào “ăn đời ở kiếp” với nhau mà người làm nhạc chỉ tìm đến phổ thơ mỗi khi thấy cần thiết, hoặc cũng có thể ngẫu nhiên bắt gặp được bài thơ mình đồng cảm, đang muốn có bài hát về cùng đề tài.

Trong kho tàng ca khúc Việt Nam hiện đại, số lượng những bài phổ thơ chiếm tỷ lệ đáng kể. Cần phân biệt: Nhạc sĩ phổ thơ và cùng với nhà thơ tạo nên phần lời ca là hai việc khác nhau. Phổ thơ là từ một bài thơ hoàn chỉnh có sẵn, nhạc sĩ phổ nhạc (tất nhiên hoàn chỉnh ở đây nói theo nghĩa tương đối với tư duy của nhà thơ). Còn việc sau là nhạc sĩ bàn với nhà thơ phác thảo phần lời ca rồi dựa vào đó tạo nên giai điệu hoặc làm nhạc trước rồi mời nhà thơ viết lời dưới các nốt nhạc (như trên thế giới).

Cố nhạc sỹ Hoàng Hiệp – ông “vua” phổ thơ.
Cố nhạc sỹ Hoàng Hiệp – ông “vua” phổ thơ.

Trong bài viết này, tôi chỉ xin bàn về việc thứ nhất: phổ thơ. Nghiên cứu lại tất cả các bài hát phổ thơ đặc sắc được công chúng ưa thích trong kho tàng ca khúc Việt Nam, thấy rõ một điều: Không phải cứ thơ hay là sẽ thành bài hát hay và ngược lại, rất nhiều khi bài thơ bình thường đã thành bài hát đặc sắc. 

Tất nhiên cũng có trường hợp cả thơ và nhạc đều hay và thơ hay lại thành bài hát dở. Dễ hiểu bởi làm thơ và sáng tác bài hát là hai công việc hoàn toàn khác nhau. Chuyển từ thể loại nghệ thuật này sang một thể loại khác đương nhiên là điều không đơn giản. 

Nhiều thế hệ công chúng đã rất ưa thích và truyền tụng những: “Bộ đội về làng” (Lê Yên phổ thơ Hoàng Trung Thông), “Anh vẫn hành quân” (Huy Du phổ thơ Trần Hữu Thung), “Đường chúng ta đi” (Huy Du phổ thơ Xuân Sách), “Cô gái vót chông” (Hoàng Hiệp phổ thơ Anh Ngọc), “Câu hò bên bờ Hiền Lương” (Hoàng Hiệp phổ thơ Đằng Giao), “Bước chân trên dải Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối phổ thơ Đăng Thục), “Tiếng đàn bầu” (Nguyễn Đình Phúc phổ thơ Lữ Giang), “Đôi dép Bác Hồ” (Văn An phổ thơ Tạ Hữu Yên)... Con số đó không thể kể hết. 

Tất cả những trường hợp trên đều là nhạc sĩ phổ nhạc từ bài thơ đã có sẵn. Bài thơ này đã được nhà thơ công bố hoặc chưa nhưng được coi là đã hoàn chỉnh. Trước khi xuất hiện những bài hát trên, người ta đã không hoặc ít biết đến những bài thơ cùng tên. Những nhà thơ vừa kể (và rất nhiều nhà thơ khác) không phải là không có thơ hay, thậm chí nhiều người được coi là nổi tiếng trong lĩnh vực thơ nhưng là những bài khác, không trở thành bài hát, chứ không phải những bài được phổ nhạc.

Ngược lại, có rất nhiều bài thơ nổi tiếng được đông đảo công chúng ưa thích nhưng người ta lại không hề nhớ được tên bài hát mặc dù đã được những nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. 

Có thể dẫn ra một số trường hợp tiêu biểu: “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ (Huy Thục phổ nhạc), “Đợi anh về” của Xi – mô - nốp (Vân Đông và Văn Chung cùng phổ nhạc), “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan được rất nhiều nhạc sĩ cùng phổ nhạc nhưng không ai nhớ được bài hát nào. 

Những bài thơ hay như “Đồng chí” của Chính Hữu, “Quê hương” của Giang Nam, “Núi đôi” của Vũ Cao, “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn, “Bói hoa” của Đoàn Lê, “Hoa chanh” của Nguyễn Bao… tôi cũng từng nghe nhưng chẳng thể nhớ được tên người phổ nhạc. 

Tuy nhiên, cũng có một số lượng không nhiều cả thơ và nhạc đều hay như “Đóng nhanh thóc tốt” (Lê Lôi phổ thơ Huyền Tâm), “Mùa chim én bay” (Hoàng Hiệp phổ thơ Diệp Minh Tuyền), “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” (Hoàng Hiệp phổ thơ Phạm Tiến Duật), “Nhớ” (Hoàng Vân phổ thơ Nguyễn Đình Thi),  “Đợi” (Huy Thục phổ thơ Vũ Quần Phương)…

Cố nhà thơ Tạ Hữu Yên – người có nhiều thơ được phổ nhạc.
Cố nhà thơ Tạ Hữu Yên – người có nhiều thơ được phổ nhạc.

Vì sao có hiện tượng như đã nói? Đã là một bài thơ hay dĩ nhiên là phải hội tụ được những yếu tố cần thiết: Ý tứ sâu sắc, độc đáo, nhiều khi là mới lạ; kết cấu chặt chẽ, hợp lý, khó có thể cắt bỏ câu, chữ nào; cách gieo vần, tạo nhịp điệu phù hợp với ý tứ; từ ngữ tìm tòi ở mức đắt nhất với hàm lượng thông tin cao nhất... 

Tóm lại, bài thơ được coi là hay khi nó đã khá hoàn chỉnh mọi yếu tố cấu thành như đã nói. Và hẳn nhiên là khi xuất hiện, nó gây được ấn tượng, tạo mĩ cảm tối đa cho người thưởng thức. Nhưng khi chuyển thành bài hát, nhạc sĩ bắt buộc phải tổ chức lại lời lẽ trong một kết cấu, khúc thức nhất định. Điều này đặt ra việc không thể bê nguyên xi lời thơ sang bài hát mà phải cắt xén, có khi lại cần thêm vào, lúc lại đảo thứ tự các khổ thơ. 

Rất nhiều khi để cho bài hát hoàn chỉnh thì bài thơ đã không còn hình hài cũ. Ở trường hợp này thì không thể gọi là phổ thơ mà là phỏng thơ. Nhưng thường là khi có được bài thơ hay, người nhạc sĩ rất thích thú, cảm thấy tiếc những lời lẽ nhà thơ làm ra nên dễ sa vào việc huy động hết thơ vào bài hát dẫn đến ca khúc lủng củng, rườm rà. Như vậy thì không thể hay được. 

Nhưng những bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao hay “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ thì quả là người phổ nhạc không biết nên lược bỏ chỗ nào, phổ chỗ nào? Tôi đã thấy các nhạc sĩ cứ thế mà cho âm nhạc bám theo tất cả các câu thơ. Rốt cuộc, bài hát rất dài, luễnh loãng. 

Huy Thục đã không tạo ra được bài hát hay từ “Đêm nay Bác không ngủ” nhưng lại cho ra đời bài “Đợi” thật đặc sắc. Vấn đề có lẽ ở điểm này: Bài thơ của Vũ Quần Phương vốn dĩ đã hay. Nhưng may mắn hơn là thơ không quá nhiều lời để nhạc sỹ có thể thuận tiện trong việc “nhồi” vào kết cấu của khúc thức bài hát. 

Đó có lẽ là lí do để nghĩ tới một điều: Khi một tác phẩm đã định hình, tồn tại vững chắc ở một loại hình nào đó rồi, nhất là đã có đời sống, tiếng tăm, đã được khẳng định giá trị trường cửu thì hãy hết sức dè dặt trong việc chuyển nó sang một loại hình nghệ thuật khác. Vì khi ấy, mảnh đất dành cho người nghệ sĩ sáng tạo ở loại hình thứ hai sẽ rất hẹp. Nhìn sang các lĩnh vực khác cũng thấy vậy. 

Từng có rất nhiều đạo diễn điện ảnh của nhiều nước đã đưa những vở bi kịch của Sếchxpia lên màn ảnh nhưng chỉ có Kôzinxép của điện ảnh Xô Viết là thành công. Nhưng người ta thấy là xem “Vua Lia” trên sân khấu vẫn thích hơn xem phim cùng tên. 

Cũng như vậy, xem phim “Chiến tranh và hoà bình” của đạo diễn Bônđasúc không thoả mãn bằng đọc bộ tiểu thuyết cùng tên vĩ đại nhất mọi thời đại của Léptônstôi, mặc dù đây là một bộ phim được thực hiện bằng rất nhiều nghệ sĩ lừng danh nhất của điện ảnh Liên Xô (cũ). 

Ở nước ta, công chúng không nhớ lâu những phim “Chị Dậu”, “Làng Vũ Đại ngày ấy”, “Số đỏ”, “Giông tố”, “Bỉ vỏ” ... bởi họ đã quá thích thú với các tác phẩm văn học của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng ...

Trở lại với vấn đề phổ thơ, có lẽ cách tốt nhất là nhạc sĩ hãy tìm đến những bài thơ có ý, tứ phù hợp với ý định sáng tác của mình mặc dù có thể  bài thơ chưa hẳn đã đặc sắc, hoàn chỉnh. Sự đồng điệu nào đó về cảm xúc trong ý tứ, tư tưởng của tác phẩm sẽ giúp người nhạc sĩ tạo nên bài hát hay. 

Và thực tế, từ thành công của những bài hát phổ thơ đã chứng minh điều đó. Nếu gặp bài thơ hay nhưng dài hoặc có nhiều câu không phù hợp với tổ chức kết cấu bài hát thì phải lược bỏ. Ở trường hợp này, các tác giả thơ cần thông cảm cho việc cắt xén này tuy đó có thể là những câu thơ hay nếu tồn tại độc lập.

Cũng chính vì một thực tế như đã thấy mà có lẽ chẳng ai minh định giá trị một nhà thơ lại căn cứ vào việc nhà thơ ấy có được nhiều hay ít bài thơ được phổ nhạc. Có những nhà thơ lớn, tác phẩm của họ là một kho báu của quốc gia mà hầu như chẳng có bài thơ nào được phổ nhạc. Ngược lại, có những người đã có tới cả trăm bài thơ trở thành ca từ bài hát nhưng vẫn không có bài thơ nào thực sự hay. 

Thơ hay có thể ngắn, có thể dài, miễn gây được ấn tượng cho người đọc và người ta không thấy mệt khi đọc hết bài. Nhưng ca khúc thì khác hoàn toàn. Toàn bộ giai điệu (một lần) chỉ vang lên trong vài phút. Còn khi trình diễn, ca sỹ hát đi hát lại nhiều lần lại là chuyện khác. Dẫu hay đến mấy mà dài dòng cũng trở nên nhàm, khiến người nghe kém hứng thú thưởng thức. 

Vậy nên một bài thơ hay có thể châm chước yếu tố kết cấu miễn không lặp lại ý tứ, điệp từ, điệp ngữ. Còn ca khúc thì bắt buộc phải đặc biệt lưu ý đến điều này – gọi là khúc thức. Vậy nên, có lẽ lối phỏng thơ (không phổ hết từng câu từng chữ) sẽ là biện pháp tốt nhất khi xử lý việc chuyển bài thơ thành ca khúc.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.