Từ thành phố văn chương Iowa: Sức mạnh tiếng Anh và giấc mơ tiếng Việt

Lựa chọn viết bằng tiếng Anh đồng nghĩa với việc bước vào một cuộc đua khốc liệt có khi chẳng thua gì cuộc đua sinh tử trong Squid Game (Trò chơi con mực). Phần thưởng có thể đổi đời, nhưng chỉ kẻ mạnh nhất giành chiến thắng. Những kẻ còn lại, sẽ bị luật chơi khắc nghiệt ném văng ra không thương tiếc.

1. Trong một buổi thảo luận nhóm trước công chúng diễn ra tại Thư viện Công cộng của thành phố Iowa, thành phố văn chương được UNESCO công nhận, thuộc khuôn khổ chương trình lưu trú International Writing Program (IWP) năm nay với chủ đề về dịch thuật, Pavla Horáková – một nhà văn Séc, người từng có xuất phát điểm là một dịch giả - thẳng thắn viết trong tiểu luận của mình rằng mỗi khi viết, chị luôn tự hỏi điều mình viết ra liệu có thể dịch lại sang tiếng Anh được không.

Thành phố Iowa: Sức mạnh tiếng Anh và giấc mơ tiếng Việt -0
Thư viện nghệ thuật của trường đại học Iowa.

Phương pháp của chị khiến tôi nghĩ đến cách làm của Haruki Murakami, người thừa nhận quy trình viết của ông như sau: đầu tiên, ông viết bằng tiếng Anh, và vì vốn tiếng Anh hạn chế nên ông sẽ chỉ viết những câu đơn giản, sau đó ông dịch lại sang tiếng Nhật. Murakami là một hiện tượng văn chương toàn cầu, trái ngược với Minae Mizumura, một nhà văn đương đại lớn khác của nước Nhật, nhưng dù là một cây bút tiếng Anh siêu hạng, đã lựa chọn viết những điều nghiêm túc nhất bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, bằng thứ tiếng Nhật gần như “không thể dịch thuật”, và vì thế, dù cũng được coi là ngôi sao văn đàn quốc tế, độ phổ biến của bà không thể bằng một góc Murakami.

Mizumura cũng từng tham gia IWP vào mùa thu năm 2003. Đúng 19 năm trước khi tôi được chọn tham gia, đại diện cho Việt Nam. Năm đó, sau khi trở về từ Iowa, bà viết bài tiểu luận tuyệt vời mang tên “Dưới bầu trời xanh của Iowa: Những kẻ viết bằng ngôn ngữ của mình”, về sau được đưa vào cuốn sách “The Fall of Language in the Age of English” (tạm dịch: Sự sụp đổ của ngôn ngữ trong thời đại tiếng Anh), có đoạn kể về một nhà văn Mông Cổ viết về Thành Cát Tư Hãn bằng thứ tiếng của họ hay một nhà văn Na Uy thay vì viết bằng tiếng Bokmal, ngôn ngữ chính thức của đất nước mình, thứ ngôn ngữ dựa trên tiếng Đan Mạch bởi Na Uy đã bị Đan Mạch thống trị suốt 400 năm, thì viết bằng tiếng bản địa Nynorsk.

“Rảo bước dọc hành lang khách sạn trong đêm, tôi có thể cảm nhận được sự hiện diện của các nhà văn ở bên kia bức tường khi họ ngồi trước màn hình máy tính và viết, mỗi người trong ngôn ngữ của mình”, Mizumura viết. Nhưng ngay cả sự thật đấy cũng không ngăn Mizumura nhận ra ngôn ngữ cũng có thứ hạng, và tiếng Anh đang dần xâm lấn thế giới ngôn ngữ, khiến các ngôn ngữ khác bị teo nhỏ chỉ còn là “những cái bóng của vinh quang xưa”, và tất cả các nhà văn ngoài tiếng Anh đều đang “trên đường sa sút”.

Khi tôi đặt câu hỏi liệu Pavla có nghĩ việc dựa trên tiếng Anh để sáng tác bằng tiếng Séc là một điều nguy hiểm cho ngôn ngữ Séc, chị chỉ bảo chị không nghĩ theo cách đó. Nếu như điều mình viết ra không thể đi xa hơn thì việc viết bằng tiếng Séc thuần túy có nghĩa lý gì. Sau buổi thảo luận ấy, dịch giả kiêm biên tập viên Natasa Durovicova, một trong những thành viên cốt cán của chương trình IWP, tới chỗ tôi và cười bảo, dù sao đi nữa, ta không thể chối bỏ sức mạnh của tiếng Anh. Nhờ sự thông dụng của mình, tiếng Anh đã phát triển để trở nên tinh xảo đến mức có thể hấp thụ gần như mọi ngôn ngữ khác, và ngay cả những tiểu thuyết được coi là “không thể dịch nổi” của Mizumura cũng vẫn có thể được dịch sang Anh ngữ.

Tôi mập mờ cảm thấy bà nói đúng.

2. Thành phố Iowa, năm 1967. Nieh Hualing khi ấy đã là một nhà văn nổi tiếng ở Đài Loan, mặc dù vậy, ở Mỹ, bà vẫn là một tên tuổi xa lạ với công chúng. Chồng bà nổi tiếng hơn bà nhiều, ông là Paul Engle, tác giả của những tập thơ bán rất chạy vào những năm 1940 như “American Songs” và “Poems in Praise”. Ông cũng là giám đốc chương trình đào tạo văn chương danh giá hàng đầu thế giới, Iowa Writers Workshop, là người đã rước được những Kurt Vonnegut hay Philip Roth về Iowa giảng dạy và đạo tạo ra rất nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ lớn của nước Mỹ. Một lần nọ, Hualing ngỏ ý với chồng mình tại sao họ không thể có một Iowa Writers Workshop cho những nhà văn ngoại quốc, những người như bà, những người không viết bằng thứ ngôn ngữ mạnh nhất thế giới.

Thành phố Iowa: Sức mạnh tiếng Anh và giấc mơ tiếng Việt -0
Tác giả cùng tiểu thuyết gia Đài Loan kiêm nhà đồng sáng lập IWP,  Nieh Hualing.

IWP đã ra đời từ ý tưởng ấy, và để hiện thực hóa kế hoạch này, hai vợ chồng tìm tới Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xin tài trợ, lấy lý do dự án sẽ quảng bá hình ảnh nước Mỹ như một miền đất cho sự hòa giải văn hóa và tự do ngôn luận. Đề xuất được chấp nhận. Thậm chí vào năm 1976, hai vợ chồng còn được đề cử giải Nobel Hòa bình vì đã “làm sụp đổ bức tường ở Iowa” vào thời điểm mà bức tường Berlin tưởng như khó mà xô đổ. Kể từ đó đến nay, khoảng 1.500 nhà văn từ khoảng 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, không xét đến những xung đột chính trị, đã được mời tới IWP, trong đó, rất nhiều cây bút sau này đã trở thành các tên tuổi lừng danh như Orhan Pamuk (Thổ Nhĩ Kỳ), Mạc Ngôn, Dư Hoa, Vương An Ức, đạo diễn/biên kịch Lâu Diệp (Trung Quốc), Han Kang, đạo diễn/biên kịch Kim Jee-won (Hàn Quốc), Minae Mizumura (Nhật Bản), Tomaz Salamun (Slovenia), John Banville (Ireland), José Donoso (Chile),...

Nhưng ngay cả sự thành công của những nhà văn của các ngôn ngữ “bên lề” (“bên lề” khi so cùng tiếng Anh) như trên cũng không nằm ngoài sự thống trị của tiếng Anh. Họ có thể trở thành ngôi sao quốc tế bởi họ được dịch sang tiếng Anh, bởi họ được xuất hiện trên các tạp chí Anh ngữ, bởi họ được các agency xuất bản tiếng Anh hỗ trợ và o bế. Trường hợp của Han Kang chẳng hạn, chính bản dịch cuốn “Người ăn chay” đã đưa Han Kang tới một tầm vóc khác, thậm chí chính danh tiếng ở nước ngoài của cô đã chảy ngược lại và nâng địa vị của cô tại chính thị trường xuất bản Hàn Quốc.

Trường hợp của Orhan Pamuk cũng thú vị không kém. Trong một bài viết mang tên” Vì sao người Thổ không ưa Pamuk?” của Alper H. Yagci, tác giả viết rằng một người bạn nước ngoài của anh từng thắc mắc tại sao ở Thổ Nhĩ Kỳ, khó tìm được một người hâm mộ của Pamuk đến vậy. Ông là tiểu thuyết gia bán chạy ở quê nhà, nhưng chủ yếu nhờ vào giải thưởng Nobel và tiếng tăm quốc tế, song nếu bạn hỏi một người Thổ nghĩ gì về Pamuk, câu trả lời mà nhiều khả năng bạn nhận được sẽ là họ bỏ cuộc sau khi tới trang thứ 50. Một trong các lý do là cách hành văn của Pamuk quá dài dòng, không thuần tiếng Thổ, có quá nhiều mệnh đề phụ (điều dường như chịu sự ảnh hưởng của ngôn ngữ Tây Âu như tiếng Anh, tiếng Pháp). Người Thổ thấy Pamuk viết sai ngữ pháp, trong khi bạn đọc phương Tây cảm thấy cú pháp của ông rất ổn!

Vậy là tiếng Anh và sự bành trướng của nó, giống như một kiểu chủ nghĩa hậu thuộc địa với những vòi bạch tuộc vô hình, vẫn len lách ngay cả khi ta không trực tiếp nhìn thấy chúng và là yếu tố quyết định nhà văn ngoại quốc nào sẽ nổi tiếng và độc giả sẽ phải mua sách của ai.

3. Khi sống ở Iowa, nhiều người không tránh khỏi “cám dỗ” của ý tưởng bắt đầu sáng tác bằng Anh ngữ, hoặc chí ít, tự dịch tác phẩm của mình sang tiếng Anh. Thành thực thì, trong đó có tôi. Dẫu biết thật chông gai, nhưng làm sao không khỏi sa ngã vào ý tưởng ấy khi mắt thấy tai nghe những đặc quyền của các tác giả viết tiếng Anh hoặc dịch sang tiếng Anh – nhuận bút cao khủng khiếp, đôi khi lên tới 300 USD cho một bài thơ 10 dòng trên tạp chí Poetry & Magazine! (thôi nào, ai có thể làm lơ trước sự mời gọi ấy, khi mà mức nhuận thơ ở Việt Nam theo tôi biết cũng chỉ tính bằng tiền trăm nghìn, có khi còn lèo tèo hơn), những lời mời làm diễn giả ở khắp nơi, những chuyến du lịch hội thảo được đài thọ từ đầu tới cuối. Tôi nhìn những văn hữu quanh mình, có quá nhiều ví dụ để mà ngẫm ngợi.

Thành phố Iowa: Sức mạnh tiếng Anh và giấc mơ tiếng Việt -0
Nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk trong cuộc giao lưu trò chuyện tại New York.

Ainur Karim, một nhà viết kịch người Kazhakstan, đã có một vở kịch mang tên “Passport” (Hộ chiếu) bằng tiếng Anh được diễn trên đài BBC. Chị bảo mình chọn viết tiếng Anh bởi biết chắc nếu viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, có những tác phẩm sẽ khó mà xuất bản. Safinah Elahi, một tiểu thuyết gia người Pakistan, trong buổi tối đầu tiên đến Iowa, kể với tôi nếu chị viết bằng tiếng Urdu thay vì viết tiếng Anh thì đã khó có cơ hội được làm việc với một nhà xuất bản tại London rồi. Mohammad Kheir, nhà văn người Ai Cập, thì kể một câu chuyện hài hước rằng khi ông gặp Natasa, bà bảo ông IWP biết đến ông nhờ quen với Robin Moger, dịch giả đã chuyển ngữ tiểu thuyết của Kheir sang tiếng Anh, vậy là ông thầm nghĩ: “Ơ, hóa ra họ chọn mình chẳng hẳn vì mình là một nhà văn giỏi”.

Và tất nhiên, cả một sự kiện xảy ra trong khi tôi còn đang tận hưởng những ngày mùa thu đẹp nhất, với những cánh rừng thay lá, với từng bầy nai thong dong trên nghĩa trang vào mỗi buổi hoàng hôn và với dòng sông Iowa trong vắt soi trời xanh ngăn ngắt: Shehan Karunatilaka, một thành viên của IWP mùa xuân năm nay, nhận được giải thưởng Booker danh giá cho cuốn tiểu thuyết “Seven Moons of Maali Almeida” (tạm dịch: Bảy mặt trăng của Maali Almeida). Dù mang quốc tịch Sri Lanka, nhưng Karunatilaka lớn lên ở New Zealand và sinh sống tại Anh, khỏi nói, ông không viết bằng tiếng Sinhala hay Tamil, ông viết bằng tiếng Anh.

Ngay cả Yiyun Li, nhà văn người Mỹ gốc Hoa đương đại vô cùng nổi tiếng, người từng theo học tại Iowa và đã trở lại đây vào đúng dịp diễn ra chương trình IWP của chúng tôi để giới thiệu tiểu thuyết mới của bà, trong buổi giao lưu với các thành viên IWP, cũng nói bà sẽ chẳng thành nhà văn nếu viết bằng tiếng Trung. Phải là tiếng Anh. Chỉ trong tiếng Anh bà mới bày tỏ được mình.

Tiếng Anh – cánh cửa thần kỳ dẫn tới thành công. Hoặc là cầu trượt đưa ta tuột thẳng xuống thất bại ê chề.

Lựa chọn viết bằng tiếng Anh đồng nghĩa với việc bước vào một cuộc đua khốc liệt có khi chẳng thua gì cuộc đua sinh tử trong Squid Game (Trò chơi con mực). Phần thưởng có thể đổi đời, nhưng chỉ kẻ mạnh nhất giành chiến thắng. Những kẻ còn lại, sẽ bị luật chơi khắc nghiệt ném văng ra không thương tiếc.

Một sự thật mà ai cũng biết nhưng không mấy ai nói thẳng ra, đó là ngay trong những nhà văn được mời tham gia IWP, không phải ai cũng thực sự được mời vì chất lượng văn chương. Một số quốc gia với nền văn chương được coi là còn sơ khai như các quốc gia nghèo ở Tây Phi sẽ nhận được sự ưu tiên nếu họ có thể đề cử được một cái tên không quá tệ. Sự thật tàn nhẫn, nhưng chính là sự thật.

Tôi chỉ biết điều đó khi Marcel De Marie Okou, một cây bút trẻ tuổi người Benin bày tỏ mong muốn đăng tuyển vào chương trình Iowa Writers Workshop sau khi kết thúc IWP. Người ta bảo rằng được nhận vào Iowa Writers Workshop còn khó hơn trở thành sinh viên y khoa, bởi theo học Iowa Writers Workshop cũng ngang tầm với việc theo học kinh doanh ở Yale hay học luật ở Harvard. Danh giá đến mức ấy.

Ngôn ngữ chính thức ở Benin là tiếng Pháp, nhưng Marcel viết bằng tiếng Anh. Thần tượng của cậu là Ngũgĩ wa Thiong'o, có lẽ là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong lịch sử châu Phi, và người ta luôn ngợi ca Ngũgĩ wa Thiong'o vì ông đã viết bằng ngôn ngữ Giyuku bản địa, nuôi dưỡng nó, phát triển nó, khác với Chihua Achebe người viết bằng tiếng Anh, thứ ngôn ngữ của thực dân. Nhưng người ta không nói thêm, chính Ngugiwa Thiong'o đã tự dịch tác phẩm của mình sang tiếng Anh. Và sau khi bị trục xuất khỏi đất nước, ông đã sang Mỹ định cư và giảng dạy. Ai, nếu không phải các học giả phương Tây, đã đưa Ngugiwa Thiong'o ra ánh sáng? Ta làm sao có thể phủ nhận sự thống trị tuyệt đối của tiếng Anh?

Nhưng khi Marcel nhờ Natasa viết giúp một lá thư giới thiệu, bà thẳng thắn nói với cậu rằng cậu còn quá trẻ nhưng đã quá tham vọng, và bà sẽ không viết thư giới thiệu cho một cây bút mà bà biết chắc sẽ không thể trúng tuyển vào chương trình đó, điều này là viển vông và hoàn toàn vô ích. Bà khuyên cậu nên chọn một ngôi trường có thứ hạng thấp hơn. Marcel thực sự suy sụp khi nghe những nhận xét không khoan nhượng, không nói giảm nói tránh, cũng chẳng có chút động viên nào ấy. Song có lẽ, nếu không phải Natasa, hẳn cũng sẽ có một người khác giúp Marcel, và có lẽ cả tôi sau khi nghe câu chuyện từ Marcel, đối diện trần trụi với những ảo vọng của riêng mình và thôi không mơ quá xa vời.

4. “Mình cảm thấy những cuộc chuyện trò về văn chương ở đây tuy rất thú vị, nhưng vấn đề là gần như tất cả bọn mình, ngoại trừ các nhà văn Australia hay New Zealand, đều chỉ đang trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ thứ hai, tiếng Anh. Và vì thế, có những điều chúng ta sẽ không bao giờ giãi bày được, câu chuyện cũng không thể đi tới tận cùng, đơn giản vì ta không có đủ từ ngữ để nói về chúng”, Qi Jin Nian nói với tôi khi cả hai ngồi trên chuyến xe đường dài đi từ Iowa đến Chicago, một trong những chuyến du lịch nằm trong chương trình IWP.

Qi Jin Nian, hay như chúng tôi thường gọi là Seven cho dễ phát âm (vâng, tiếng Trung quá khó nhớ với nhiều người nên cô lại phải dùng tiếng Anh, một ví dụ nho nhỏ mà dễ hiểu về cách tiếng Anh nuốt trọn danh tính của ta), là một trong những nhà văn 8x được đánh giá rất cao và cũng bán rất chạy ở Trung Quốc. Cuốn sách đầu tay của cô năm 16 tuổi đã bán tới 1,5 triệu bản, và khi sang Iowa, có thể bắt gặp rất nhiều sinh viên gốc Hoa đã từng đọc sách của Qi. Nhưng dù là một ngôi sao văn chương ở đất nước tỷ dân, Qi vẫn bị coi là vô danh ở quốc tế. Đơn giản, vì mới chỉ có hai truyện ngắn của cô được dịch thuật sang tiếng Anh.

Tôi không có nhiều mối quan hệ trong văn giới Việt Nam, một phần vì tôi có xuất phát điểm ngoại đạo và không theo học văn chương bài bản. Những cuộc chuyện trò ở IWP là dịp hiếm hoi trong đời tôi được say sưa nói về văn chương với những người đồng đạo. Tôi đã bất ngờ, đã xúc động, đã được mở mắt, tôi cảm thấy đã đời, nhưng vẫn có một điều gì đó trong tôi biết đó chưa là tất cả.

Khi những cuộc chuyện trò bắt đầu men đến những vấn đề thẳm sâu thì luôn luôn, đến một lúc, sẽ có một cái gì đó, cứng, vững, đanh, không thể đập vỡ, không thể khoan thủng, ngăn không cho chúng tôi tiến sâu hơn, như những nhà địa chất học mãi mãi chẳng thể chạm tới lõi địa cầu. Chúng tôi bị đẩy bật ra từ đó và biết sau cùng, mình sẽ không thể nào với tới cái kho báu chân lý kia, nếu dùng một chiếc xẻng không thuận với đôi tay của mình.

Nhờ ngôn ngữ thứ hai, chúng tôi có thể kết nối với nhau. Nhưng cũng chính ngôn ngữ thứ hai là một nhà giam mà chúng tôi không cách nào vượt qua. Mỗi chúng tôi là một sinh thể nằm trong một chiếc bong bóng tiếng Anh, có thể trôi nổi đến rất gần nhau, song không sao chạm vào nhau được.

5. Tôi còn nhớ vào bữa tiệc thành viên IWP năm nay trong một không gian nơi ngoại ô thành phố, bên bờ sông Iowa với hoàng hôn tím hồng và hàng đàn chim di trú, tất cả đã vỗ tay rền vang khi Nieh Hualing xuất hiện. Mấy năm nay, từ khi dịch bệnh ập tới, bà chưa từng xuống núi. Bà đã 98 tuổi và đã không còn minh mẫn như xưa.

Thành phố Iowa: Sức mạnh tiếng Anh và giấc mơ tiếng Việt -0
Tượng nhà đồng sáng lập Paul Engle bên trong ngôi nhà Shambaugh, văn phòng chính của IWP.

Những tràng pháo tay ấy hoàn toàn trái ngược với những gì mà tôi tìm kiếm được sau đó trong thư viện trường đại học Iowa, một thư viện khổng lồ đúng là không khác gì mê cung như tôi từng đọc trong những câu chuyện của Jorge Luis Borges. Tôi đi tìm những cuốn sách của Nieh để tìm hiểu, nhưng tất cả những gì tôi tìm thấy bằng tiếng Anh chỉ có “Mulberry and Peach”, cuốn sách từng được tạp chí Asia Weekly xếp trong danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Hoa vĩ đại nhất thế kỷ 20. Ngoài ra, chỉ là sự trống rỗng mênh mông.

Trong bộ phim tài liệu về cuộc đời Nieh Hualing, có một đoạn bà nói rằng, đáng ra bà có thể sáng tác bằng tiếng Anh, bởi chồng bà là một nhà thơ Mỹ nổi tiếng cơ mà, bà lại có rất nhiều bạn bè trong giới sẵn sàng giúp bà biên tập, và hơn hết, bà tự tin với vốn Anh ngữ của mình sau nhiều năm sống ở Iowa – nói cách khác, bà có đầy đủ điều kiện và bệ phóng để đưa tên tuổi mình lên vũ đài văn chương Anh ngữ. Nhưng cuối cùng, những cuốn sách quan trọng nhất trong đời mình, bà đều chọn tiếng Hoa để viết.

Nieh Hualing, vì thế, dù là một biểu tượng văn chương Đài Loan, và phần lớn những đại diện Đài Loan được cử đi IWP hằng năm đều là các cá nhân vô cùng xuất sắc, nhưng ở Mỹ, bà được nhớ đến nhiều hơn với những đóng góp cho cộng đồng văn học. Chỉ những năm gần đây mới lác đác có những cuộc khai quật trở lại sự nghiệp tác giả đồ sộ của bà. Chọn lựa viết bằng tiếng mẹ đẻ cũng là một sự hiến thân, một sự trả giá.

Sau ba ngày đọc “Mulberry and Peach”, tôi hỏi Chu He-chih, nhà văn người Đài Loan và cũng người bạn thân thiết nhất của tôi ở IWP, rằng liệu có cách nào anh giúp tôi tới thăm Nieh Hualing được không. Nhưng không có cách nào cả. Mỗi khi gia đình Nieh mời các nhà văn Hoa ngữ tham gia IWP tới chơi nhà, họ đều không có khách bên ngoài. He-chih bảo với tôi bởi Nieh muốn nghe tiếng mẹ đẻ của bà, điều đó làm bà vui. Có lẽ là thế, thứ tiếng nào mà ta sẽ khao khát nghe nhất khi đã ở tuổi gần đất xa trời, thứ tiếng đó sẽ là thứ tiếng mà ta phải viết.

6. Hoặc là thứ tiếng mà ta thấy trong những giấc mơ. Trong buổi giao lưu cùng Yiyun Li, bà nói với chúng tôi bà viết tiếng Anh không chỉ bởi vì khi viết tiếng Anh, bà mới thực sự giãi bày được mình, mà còn bởi vì bà mơ bằng tiếng Anh. Mơ bằng tiếng nào thì viết ngôn ngữ đó.

Một đêm nọ, sau khi động viên Marcel tiếp tục theo đuổi giấc mơ theo học thạc sĩ sáng tác văn chương bằng tiếng Anh ở Iowa bất chấp những nhận xét đầy thối chí từ phía Natasa, tôi đi ngủ và nằm mơ. Tôi nằm mơ về buổi biểu diễn âm nhạc ở “thánh đường” jazz Birdland ở New York mà trước đó tôi cùng Chu He-chih đến dự, cái đêm tôi được bắt tay và nói với nghệ sĩ piano jazz Bill Charlap rằng âm nhạc của ông thật diệu kỳ, và trong mơ, tôi lại thấy Bill Charlap, ông cùng chụp ảnh chung với tôi và nói lời cảm ơn đã tới hôm nay. Điều kỳ lạ là lời cảm ơn của ông lại bằng tiếng Việt.

Tôi không biết giọng nói ấy đến từ phương nào. Nhất định không phải là giọng của Charlap trong đời thực mà tôi đã nghe. Có lẽ là giọng của tôi chăng? Hẳn rồi, giọng của tôi, tiếng của tôi, ngôn ngữ của tôi. Thứ tiếng “thiểu số”, thứ tiếng “bên lề”, thứ tiếng của kẻ “ngoại cuộc”, thứ tiếng có thể cản trở cho những giấc mơ và ảo tưởng điên rồ của tôi với văn chương, nhưng sau rốt, đó là thứ tiếng trong giấc mơ yên bình nhất mà tôi bắt gặp trong giấc ngủ.

Tôi viết tiếng nước tôi, bởi tôi mơ bằng tiếng nước tôi. 

Hiền Trang

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?