Từ Đồng Lộc đến Truông Bồn

Ngày 1 tháng 7 năm 2024, Ban Quản lý Khu Di tích Truông Bồn trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã tiến hành dựng bia đá khắc bài thơ “Khúc tưởng niệm liệt sĩ Truông Bồn” của tôi - nhà thơ Vương Trọng. Trước đó 26 năm, năm 1998, ở Khu Di tích Đồng Lộc trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã khắc dựng bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” của tôi.

Như vậy trên hai khu di tích lịch sử lớn của đất nước ta, tôi đã có hai bài thơ thường trực với linh hồn của hơn hai nghìn liệt sĩ Thanh niên xung phong, quân đội và đồng bào đã ngã xuống trên hai vùng đất ác liệt này.

Từ Đồng Lộc đến Truông Bồn -0
Nhà thơ Vương Trọng tại khu di tích Đồng Lộc.

Đầu năm 1965, không quân Mỹ mở rộng phạm vi đánh phá ra các vùng thuộc địa bàn Quân khu 4, thì Đồng Lộc và Truông Bồn trở thành hai trọng điểm hứng chịu bom đạn địch. Để bảo đảm con đường vận tải chuyển quân và chuyển vũ khí, hàng hóa vào Nam, trên mảnh đất Ngã ba Đồng Lộc bé nhỏ đã có gần một ngàn liệt sĩ, còn ở Truông Bồn và vùng phụ cận, 1.240 người đã ngã xuống. Cuối chiều ngày 24 tháng 7 năm 1968, mười cô gái Thanh niên xung phong đã hy sinh vì bom vùi ở Đồng Lộc, thì 99 ngày sau, vào rạng sáng ngày 31 tháng 10 năm 1968, 13 chiến sĩ Thanh niên xung phong gồm 11 nữ, 2 nam đã hy sinh ở Truông Bồn.

Năm 1995, sau khi mười liệt sĩ ở đây hy sinh đã 27 năm, tôi mới có dịp về thăm Đồng Lộc và sáng tác bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc”. Ở bài thơ này, tôi không nói cảm xúc của nhà thơ khi đến nghĩa trang, mà nói lời thỉnh cầu của mười liệt sĩ với những người đến viếng. Ở đây tôi muốn ca ngợi thêm một lần nữa phẩm chất anh hùng của các liệt sĩ: luôn luôn nghĩ về người khác, mà ngày xưa các cụ thường gọi tấm lòng vị tha. Trước hết là nghĩ về những liệt sĩ khác không có mộ phần ở Đồng Lộc, rồi đến chuyện trồng cây, bón chăm mùa màng… đều vì những người đang sống. Còn đối với các cô thì chỉ mong khu nghĩa trang có vài cây bồ kết, để người đến viếng đốt hương cùng quả bồ kết, để hai thứ hương thơm ấy hòa quyện tắm gội cho linh hồn các cô, bởi “Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa kịp gội”!

Ba năm sau, năm 1998 thì bài thơ được khắc vào đá và hai cây bồ kết được trồng vào nghĩa trang. Điều đáng nói là người khắc thơ lần đầu tiên và trồng hai cây bồ kết là Đại tá Nguyễn Tiến Tuẫn, một trong ba anh hùng lực lượng vũ trang có thành tích trên địa bàn Đồng Lộc.

Từ khi có thơ khắc vào bia đá ở Khu Di tích Đồng Lộc, tôi cảm thấy mình có nợ với Truông Bồn. Truông Bồn thuộc huyện Đô Lương của tôi, cách nhà tôi chỉ mười lăm cây số, mà thuở xưa cuối năm dân làng tôi vẫn đến đó cắt cỏ về cho trâu bò “ăn tết”.

Năm 2014, khi Khu Di tích Truông Bồn xây dựng đã gần xong, tôi có chuyến đi thực tế khu vực này và đọc lại những trang bút ký, đặc biệt là hai quyển sách của nhà văn Trần Huy Quang và nhà báo Hoàng Chỉnh, tôi thật sự xúc động và muốn truyền sự xúc động đó đến với người đọc. Tôi nghĩ tới thể loại văn tế. Văn tế có khả năng chuyển tải chi tiết, sự kiện... không kém bút ký, đồng thời có thể truyền xúc động hơn cả thơ trữ tình. Và khi làm xong bài thơ với thể văn tế này, tôi nghĩ sự lựa chọn thể loại của mình là chính xác, khi đọc lại những câu:

Từ Đồng Lộc đến Truông Bồn -1
Bài thơ khắc trên bia tưởng niệm tại khu di tích Truông Bồn.

Bữa ăn muộn quây quần trận địa, bờ hố bom mì luộc thay cơm/ Giấc ngủ khuya chen chúc chỗ nằm, đáy hầm kèo rơm khô lót ổ”, hay: “Bảy chiến sĩ tung lên trong tiếng nổ, xót xác người tan giữa trời cao/ Sáu sinh linh nằm sâu dưới bãi bom, đau thi thể vùi trong đất đỏ”. Sự thật chọn thể loại văn tế để viết đề tài này đến với tôi không phải ngẫu nhiên, mà từ lâu tôi đã có ý muốn góp sức mình để làm sống lại thể loại văn tế hơn nửa thế kỷ qua đã vắng bóng trên thi đàn.

Một điều vui là ý tưởng trồng cây bồ kết ở Đồng Lộc đã lan sang Truông Bồn. Hiện tại ở Truông Bồn đã có trên bốn chục cây bồ kết, làm thành một đồi bồ kết tốt tươi, mà phần lớn thân cây đều to hơn hai cây ở nghĩa trang Đồng Lộc!

Nhân dịp này tôi muốn chúng ta cùng đọc lại hai tác phẩm đó và thấy được hình ảnh trên bia đá ở hai khu Di tích Thanh niên xung phong Đồng Lộc và Truông Bồn!

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc

Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa, dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.

Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa!
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên kia mộ, xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không? Thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.

Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.

Cần gì ư?- Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

                              Đồng Lộc, 5/7/1995

Khúc tưởng niệm liệt sĩ Truông Bồn

Gió thông ru giấc ngủ vĩnh hằng
Hương khói quyện lòng người nức nở
Ngàn hai liệt sĩ dứt cõi trăm năm (*)
Mười ba linh hồn nương cùng một mộ
Khác xóm làng, khác biệt giờ sinh
Chung trận địa, chung nhau ngày giỗ!

Nhớ linh xưa
Từ giã ruộng nương
Kết thành đội ngũ
Vũ khí là xẻng cuốc, đã từng quen cán bỏng tay phồng
Chiến trường ấy cầu đường, chẳng xa lạ bom rơi đạn nổ.
Cháy xe như cháy thịt, chiến sĩ lái xe vượt quầng lửa điên cuồng
Đứt đường tựa đứt gân, chị em vá đường chấp tiếng gầm hùng hổ.
Đến ấm áp tình em tình chị, lá thư nhà cùng đọc cùng nghe
Qua thẫn thờ nỗi mẹ, nỗi quê, căn hầm lạ đêm buồn đêm nhớ.
Nước nhút, quả cà
Rau lang, ngọn đỗ
Bữa ăn muộn quây quần trận địa, bờ hố bom mì luộc thay cơm
Giấc ngủ khuya chen chúc chỗ nằm, đáy hầm kèo rơm khô lót ổ…

Ba năm gian khổ, hiểm nguy
Một sáng ngỡ ngàng, mừng rỡ:
Xứ Nghệ sắp thoát khỏi đạn bom
Truông Bồn sẽ nằm ngoài vĩ độ
Khao khát lắm con về với mẹ, dọi mái nhà che nắng, che mưa
Hạnh phúc sao chị lại cùng em, chăm thửa ruộng trồng khoai, trồng đỗ
Ba năm gần đã bao kỷ niệm, quyến luyến sao đồng đội chiến tranh
Một ngày xa ắt lắm nhớ thương, dằng dặc lắm con đường sỏi đỏ.

Đêm 30, lời bịn rịn chia tay
Sáng 31, buổi cuối cùng nhiệm vụ
Kẻng báo động vừa nghe vài tiếng, đinh tai phản lực cuồng điên
Hầm trú thân mới chạy một thôi, lóa mắt bom chùm tọa độ
Mặt đất đung đưa
Khung trời sụp đổ
Tan khói bom vắng biệt bóng người
Tìm đồng đội gặp toàn miệng hố!
Bảy chiến sĩ tung lên trong tiếng nổ, xót xác người tan giữa trời cao
Sáu sinh linh nằm sâu dưới bãi bom, đau thi thể vùi trong đất đỏ
Tìm đâu được thịt xương đà tan biến để phân chia riêng biệt từng người
Nhớ đinh ninh đồng đội chết chẳng rời đành gom lại chung nằm một mộ.

Đất hay
Trời rõ:
Sống cho nước, xả thân vì nước, để muôn đời ngào ngạt danh thơm
Chết vì dân, chiến đấu cho dân, lưu vạn thuở rạng ngời gương tỏ
Mãi dìu dặt lời ca Ví Giặm, công anh hùng thống nhất giang sơn
Còn ngân vang câu hát Đò Đưa, máu liệt sĩ vẹn toàn lãnh thổ.

Em nhỏ Cà Mau
Cụ già Trà Cổ
Đến Xứ Nghệ thăm vùng đất nổi tiếng ngàn năm
Về Truông Bồn dâng nén nhang viếng người thiên cổ!

                                                                     15/4/2015

--------

(*) Trong cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Hoa Kỳ, ở khu vực Truông Bồn, đã có 1.240 chiến sĩ hy sinh.

Vương Trọng

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.