Mặt trời tranh chỗ đậu cùng với lũ chim câu, trên ngôi nhà, nơi bà con Hà Khê thường gọi là “Trụ sở cách mạng quận Nhì”. Đã bước sang trung tuần tháng Năm, nắng sớm rót xuống làm vuông sân óng lên màu mật ong, nom ngọt lịm. Thành xăm xăm bước vào cơ quan, mà không nghĩ rằng, cách ăn mặc của mình sẽ làm nhiều người chú ý.
Từ phòng bảo vệ, nhân viên trực bước ra:
- Anh đi đâu đấy? Vào đây có việc gì không?
- Dạ dạ! Cho tui vô gặp ba tui chút xíu!
- Ba anh là ai?
- Thưa là... ông Phi!
Viên bảo vệ chợt đổi giọng và cũng đổi cách xưng hô, thân tình hơn:
- Ba chú là ông Phi? Chú có chắc hông đó?
- Dạ dạ! Dạ chắc anh! Ba tui tập kết ra Bắc, tham gia cách mạng, giờ trở về làm lớn ở quận này nè.
- Làm lớn! Làm lớn mà làm gì?
- Dạ, tui đang chạy ghe giã cào trong Phan Thiết, nghe người ta vô nói lại.
- Người ta nói lại? Mà nói làm sao?
- Ta nói…, ông già mầy về rồi! Về làm lớn ở quận Nhì ngoải! Chơ tui cũng hổng có biết là ba tui làm chi! Mấy anh thương tình, cho tui vô gặp ba tui chút xíu, tui mong gặp ba tui quá hà.
Nhìn “vị khách” từ đầu đến chân, phảng phất chút mùi cố hữu. Có lẽ là mùi khen khét của khói dầu, mùi tanh nồng của hải sản, cộng với mùi khăn khẳn của mồ hôi, do ít được tắm giặt. Trên người cậu, chiếc quần ống loe, lai gấu tướp táp, đầu tóc bờm xờm phủ hết vùng cổ, thật khó tin anh ta là con ruột của vị lãnh đạo đáng kính ở quận này.
- Vậy má chú là ai, hiện giờ ở đâu?
- Dạ má tui tên Lan, thường gọi là Út Lan, ở ngay đất Hà Khê này nè.
Viên bảo vệ nhớ lại, hôm rồi, anh có nghe người ta nhắc đến cái tên “Út Lan”, người mà ông Phi đang nhờ tìm kiếm. Nghĩ đoạn, anh bảo Thành vào phòng trực:
- Chú mày ngồi đây đi, để ta gọi cho ổng đã.
Thành ngoan ngoãn làm theo như một cái máy. Người bảo vệ quay telephone, chiếc máy có vẻ rệu rã như hàm răng ông lão, tiếng quay gần giống như xay lúa:
- Alô! Dạ thưa chú! Có một thanh niên tự xưng tên là Thành, nói là con trai và muốn vô gặp chú. Có đúng hông chú?
Không hiểu đầu dây bên kia trả lời những gì, chỉ biết sau khi “Dạ, dạ!”, anh ta đặt ống nghe và dịu giọng với Thành:
- Chú mày đi theo ta. Coi chừng bộ đồ trên người chú mày chẳng vừa mắt ông già đâu nha.
Thành trách mình quá hấp tấp, khi con tàu giã cào từ Phan Thiết vừa về thả neo, Thành mang nguyên đồ đi làm, kêu xe lai tới thẳng nơi đây. Nhưng từ trong sâu thẳm, Thành vẫn tin vào tình cha con, ba sẽ không nỡ la mắng, khi con trai đi làm ở nơi xa vừa về. Viên bảo vệ đưa Thành vào phòng tiếp khách.
Ba năm trước, khi ông từ ngoài Bắc trở lại miền Nam vì công tác đặc biệt, có hôm ông về trú ngay trong ngôi nhà của mình. Ba má cùng vợ ông đã kín đáo tạo sẵn một căn hầm bí mật, ngay dưới chiếc tủ mắc đồ, phòng khi ông về bất ngờ. Chẳng biết bọn địch đánh hơi từ đâu, hùng hổ kéo đến, lục soát, quát tháo, dọa nạt ầm ĩ một lúc rồi bỏ đi. Từ hôm đó, ông lánh nhà ra đi một cách âm thầm. Có ai ngờ, ông đi là để chuẩn bị cho việc trở về tiếp quản thành phố sau này.
Từ cái đêm đó, mẹ con Thành không hề biết chút gì về ba. Niềm vui sum họp sau gần mười lăm năm xa cách chưa trọn vẹn, mẹ con anh đã mơ hồ cảm nhận một điều chẳng lành. Ngay cả những khi cha mẹ chồng lâm chung, cũng một tay bà năn nỉ lối xóm láng giềng giúp đỡ. Thời ấy, bà chẳng dám chia sẻ cùng ai, chẳng thể hỏi han ai. Nhiều lúc bà cảm thấy xót xa, khi nghĩ tới điều xấu nhất, lẽ nào… ông đã...
Thấy cha bước vào, Thành nhào tới: “Ba…! Ba ơi…!”. Ông Phi vòng tay ôm con, hôn lên mái tóc khê khét và để yên cho con thỏa lòng. Những ngày đầu thành phố vừa giải phóng, ngổn ngang xe cộ địch bỏ lại đầy đường. Ông về lại chốn xưa, ngôi nhà kỷ niệm tuổi thơ vẫn đó nhưng sau trước im lìm. Ông có hỏi han tung tích mẹ con Thành nhưng trong lúc này, ai nấy đều lo cho thân mình chưa đủ, làm sao người ta biết mẹ con bà đang ở đâu. Ông băn khoăn vì không có mối manh nào tin cậy để suy đoán. Vậy mà hôm nay, ông đang ôm vào lòng đứa con trai, đứa con mà nhiều năm qua ông mong mỏi, nhớ thương thắt ruột và tìm kiếm biết bao lâu.
*
Năm ấy, làng Hà Khê nghèo khó bên bờ biển Thanh Khê, sanh hạ thêm người con trai kháu khỉnh. Càng lớn Lê Văn Phi càng khỏe mạnh, thông minh. Mười lăm tuổi, ông đã làm liên lạc cho du kích; ngày thành phố khởi nghĩa, ông xông xáo xuống đường, cùng bà con cướp chính quyền. Kháng chiến bùng nổ, Ba Phi chính thức vào du kích, trở thành nòng cốt của phong trào trên quê hương mình.
Thấy người ta kháo nhau, cuối làng có cô Út đẹp người đẹp nết. Ba Phi có tìm hiểu, thì ra, lời đồn quả không sai. Có lẽ một phần do duyên định, họ cảm tình với nhau qua cái nhìn đầu tiên. Sau tết Nhâm Thìn, bà con Hà Khê chứng kiến cuộc hôn nhân của họ. Đám cưới thời chiến không ồn ã, cầu kỳ nhưng rất hạnh phúc. Hai năm sau, qua bao ngày mong mỏi, vợ chồng họ có tin vui, Út Lan mang thai đứa con đầu lòng. Nhưng niềm vui chưa thỏa, tất cả vì quê hương đất nước, mỗi người một nhiệm vụ, họ đã phải xa nhau như vầng trăng xẻ đôi chưa hẹn ngày tái ngộ.
Đêm tiễn chồng, Út Lan xúc động bước bên anh ra phía sau nhà. Gần kỳ sinh nở, đứa con như cảm nhận được sự quyến luyến của cha mẹ, quẫy đạp liên tục. Họ dừng lại đôi phút bên nhau, trăng trung tuần vừa nhô lên phía Sơn Chà, Ba Phi ôm vợ, hôn ngốn ngấu rồi dặn:
- Anh ra Bắc có hai năm thôi! Em ở lại sinh nở mẹ tròn con vuông và gắng phụng dưỡng cha mẹ giùm anh. Nếu là con trai, em đặt tên con là Thành; nếu con gái, đặt tên con là Hoài, thay cho niềm mong mỏi kháng chiến sớm thành công, đất nước sớm thống nhất, ngày xong nhiệm vụ anh sẽ về cùng mẹ con em nhé.
Lời tạm biệt có bấy nhiêu mà tâm trí Lan thổn thức. Cô hiểu, lòng anh cũng đang rối bời tâm trạng chia ly. Lan chỉ kịp vùi đầu vào ngực chồng, nước mắt đã trào ra dầm dề ngực áo ngai ngái mồ hôi của chồng. Lát sau, Lan ngẩng lên, mạnh mẽ:
- Mình cứ yên tâm phấn đấu theo cho kịp anh em, ở nhà em sẽ thay mình đảm đương mọi việc, đừng có nặng lòng mà ảnh hưởng đến sức khỏe và công tác, mình nhé.
Họ chia tay nhau, ánh trăng dìu dịu rải trên biển Hà Khê, Út Lan vẫn nhìn theo bóng chồng. Một con thuyền nhỏ đã đợi sẵn, đón anh ra chiếc ghe thả neo gần hòn Chảo, phía Bắc cửa Hàn để tập kết ra Bắc. Đó là một đêm tháng 9 năm 1954.
*
Xa chồng, những năm sau đó, địch ruồng bố, bắt bớ, khảo tra… nhất là với những gia đình có người theo cách mạng, đi tập kết. Một tay Lan vừa bận bịu con thơ, vừa chăm sóc cha mẹ chồng già yếu. Nhưng khi con trai cứng cáp dần, nom cô càng đẫy đà trong bộ bà ba nền nã. Mái tóc đen mềm, bồng bềnh ôm lấy đôi má hồng hào; nụ cười như bông hàm tiếu luôn nở tươi trên môi; thảo nào dân gian nói: “Gái một con trông mòn con mắt” quả không ngoa.
Lan chẳng dám sắm đồ mới, chẳng xuất hiện chốn đông người, càng không dám mở tiệm này kia. Cô chỉ bán hộp thuốc lá, mấy chai xá xị… gọi là có việc làm, cho vui tay chân. Cố tình đơn giản như vậy nhưng cũng chẳng được yên thân. Đám lính ghé mua thuốc điếu, phát hiện rồi trầm trồ, khoe khoang, bốc phét lên tận mây, thần thánh hóa cái nhan sắc trời cho phía sau tủ thuốc lá.
Chuyện rồi cũng đến tai chỉ huy của chúng, tên cai đội bảo an lái chiếc Jeep mui trần ghé mua gói Capstan. Y kéo ghế ngồi bắt chân chữ ngũ, như muốn khoe đôi giày nhà binh, xòe chiếc Zippo đốt ngay một điếu, rồi gọi chai Con cọp, vờ ngồi nhâm nhi, hỏi han trêu ghẹo vu vơ. Lúc trả tiền, y cố ý bỏ lại hơn trăm rưỡi nghìn tiền thừa, nói “Nhằm nhò chi…”. Lan cố tình đẩy số tiền tới trước mặt y nhưng hắn đã đứng dậy, nheo mắt với cô đầy nhã ý, rồi bước lên xe với một động tác rất điệu, đề máy phóng đi.
Cô phấp phỏng lo lắng, biết không xong với tụi này rồi. Vài hôm sau hắn ta lại đến, lần này hắn vừa mua đồ vừa lên giọng tán tỉnh, dụ dỗ Lan… Sau mấy lần giở trò đều bị cô thẳng thừng từ chối, hắn hậm hực đánh xe về. Chuyện còn oái ăm hơn, khi địch bắt được một người từng hoạt động với chồng cô. Do không chịu nổi các đòn tra tấn, người đó đã chiêu hồi và khai ra, chồng Lan là Ba Phi đi tập kết “năm tư”, còn Lan là giao liên cho Việt cộng. Từ đó dẫn dắt bao rắc rối và một chuỗi ngày gian nan, cơ cực cho mẹ con cô.
Vừa tờ mờ sáng, chiếc xe Cảnh sát thắng gấp rồi đỗ xịch trước cổng nhà. Từ trên xe, hai tên MP (Military Police) tay lăm lăm súng, nện gót giày côm cốp, quát tháo ầm ĩ. Nhác thấy cụ già điềm tĩnh, tay nâng chén trà bốc khói, một tên quát:
- Lão già kia, con Lan đâu?
Ông cụ bất cần trước cái giọng xấc xược của tụi lính, thản nhiên châm trà. Vẫn lặp lại câu hỏi trên, vẫn bất động. Chúng đưa tay làm hiệu cho nhau, lục soát căn nhà, đoạn tức tối ra xe rồ máy phóng đi… Tầm tan chợ, Lan vừa về thì tụi lính trở lại. Chúng tuyên, làm giao liên cho Việt cộng, có chồng đi tập kết, đều là chống lại quốc gia, vào trại cải huấn ngay. Chúng xồng xộc kéo Lan lên xe, đóng cửa hậu cái “rầm”, vút đi… Từ đó, Nhà giam Kho đạn Đà Nẵng, nơi thường gọi là Trung tâm Cải huấn Chợ Cồn có thêm một cái tên, nữ tù nhân Trần Thị Lan. Nếm mùi tù tội, Lan gồng mình chịu đựng biết bao đòn tra tấn thâm độc. Thời kỳ đầu, viên quản lý Trung tâm trực tiếp lấy cung Lan. Hắn giở đủ trò ngon ngọt nhưng trước sau, cô vẫn một lòng chung thủy với người chồng nơi xa và kiên trung với cách mạng. Lan khảng khái:
- Chồng tui nói đi làm ăn với người ta, thì tui biết vậy, ngoài ra ảnh đi đâu, làm gì làm sao tui biết được. Tui đang rầu thúi ruột mà mấy ông hổng chịu biết cho.
Những tháng năm ở Trại giam Kho đạn với cô là địa ngục giữa phố thị. Ngoài đòn roi, giường nằm là bục xi măng, dưới cái nóng khắc nghiệt ở Đà Nẵng, mồ hôi vã như chiên dầu, đó là chưa nói tới những ngày việc riêng của chị em, vô cùng cơ cực. Về mùa đông, bục xi măng khiến tù nhân cảm nhận cái lạnh thấu xương. Cũng may, chúng giữ Út Lan ở đây, chứ không đưa đến các nhà lao khác, nên đôi lần Thành, con trai cô được cùng cô ruột vô ra thăm mẹ.
Cho đến ngày, dù đã thay đổi nhiều thủ đoạn tra tấn nhưng không khai thác được gì, cộng với áp lực đấu tranh của dân chúng từ bên ngoài, chúng buộc phải trả tự do cho Út Lan. Do liên tục bị cùm chân, bị tra tấn dã man, ngày ra tù, Út Lan bước đi không vững. Nếu không có cô em chồng dìu đỡ, Lan không thể tự mình đứng lên. Thương xót con dâu, mẹ chồng tích cực chăm lo thuốc thang, và phải hơn sáu tháng sau Út Lan mới đi lại bình thường được.
*
Chiếc ghe lênh đênh gần năm ngày trên biển, mang theo những người con từ Đà Nẵng đến cửa biển Lạch Chào, tỉnh Thanh Hóa. Nhận thông tin từ cấp trên, tỉnh giao cho Cảng vụ Thanh Hóa theo dõi, hướng dẫn anh em vào cập cảng an toàn. Việc đón tiếp khá mau lẹ, mỗi người hoặc mỗi nhóm được đưa về các cơ quan trong tỉnh. Ba Phi được xe com-măng-ca chở về ủy ban tỉnh, sau đó cơ quan Tỉnh Đội đến tận nơi để đón ông. Trên đất Bắc, ông được dự nhiều khóa đào tạo và trải qua nhiều vị trí công tác. Cuộc chia tay Nam Bắc không dừng lại hai năm như ban đầu, mà kéo dài tới hơn hai chục năm. Ba Phi mãi lao vào công việc, nhưng ông không thể quên, hình ảnh vợ yêu với cái bụng vượt mặt ngày chia xa.
Cuối 1967, ông được giao trở lại mặt trận Khu 5, nghiên cứu, chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968. Trở về Nam sau gần mười lăm năm xa cách, lòng ông cồn cào, muốn biết ngay tình hình quê hương và gia đình. Song, do tính chất tuyệt mật của nhiệm vụ, nên ông phải nén nỗi thương nhớ vợ con chấp hành mệnh lệnh cấp trên. Đêm giao thừa năm ấy, ta đồng loạt tấn công các thành phố lớn. Sau tết, theo lệnh trên, Ba Phi không trở ra Bắc, mà ở lại xây dựng mạng lưới cơ sở, vùng căn cứ miền tây Quảng Đà, chuẩn bị giải phóng Đà Nẵng và các tỉnh Khu 5 sau này. Đến lúc đó, Ba Phi mới có điều kiện nghĩ đến vợ con và đi tìm manh mối, bắt liên lạc với gia đình.
Dù chưa từng biết mặt cha, nhưng bao nhiêu cơ cực cứ vận hết vào “vầng trăng” của cha. Càng lớn, Thành càng chịu nhiều áp lực, ra đường Thành chẳng dám giao du với ai. Tới lớp, Thành ru rú một góc, bởi chẳng có ai dám bạn bè cùng cậu. Chẳng phải chúng ghét gơ gì Thành, cái chính là chúng sợ liên luỵ, vì chơi với con em gia đình có người tập kết, chống lại quốc gia. Thế rồi Thành cũng tròm trèm hết Trung học. Tới đây cậu nghỉ luôn không thi tú tài, vì cho rằng, có thi cũng chẳng trò trống gì. Sau mấy ngày lân la, một chủ ghe ngắm Thành, hỏi:
- Đã đi làm biển bao giờ chưa?
Thành tự tin:
- Dạ chưa, nhưng chắc chắn tui sẽ làm được ạ.
Thế là Thành trở thành ngư phủ trên ghe cào tôm từ đó. Nhưng cũng chưa yên, hôm sau, bảo an xuống tìm gặp chủ ghe:
- Anh nắm lai lịch chưa mà anh mướn cậu ta? Cha nó đi tập kết, có ngày nó lấy ghe anh chạy ra Bắc á nha.
Trước khi lên bờ, viên bảo an còn yêu cầu chủ ghe ký sổ, cam kết này nọ… Nhưng ông chủ thì ngày càng quý mến và tin tưởng Thành, mỗi lần về bến, ông thường giao cho Thành ở lại trông ghe, để bạn thuyền ghé qua nhà chốc lát.
Một đêm, ông Phi chỉ huy Tổ trinh sát kỹ thuật, trực tiếp về thành phố kiểm tra thực địa, giúp cấp trên lên phương án giải phóng Đà Nẵng. Về phố, ông nhờ giao liên xuống Hà Khê, tìm hiểu tình hình gia đình giúp ông. May mắn gặp người hàng xóm tốt bụng, người ấy cho hay, Thành theo ghe giã cào vào làm ăn trong Nam. Bà Lan và bà chủ ghe cũng vào buôn bán trong đó. Ông Phi mừng rơi nước mắt, vì có cơ sở để đảm bảo, vợ con vẫn còn sống. Ông nén lại tất cả cảm xúc đang giày vò ruột gan và đè nặng trái tim ông để xác định, chỉ có lao vào trận quyết chiến cuối cùng này mới mong sớm đến ngày vợ chồng sum họp.
Nhưng cuộc sống thường diễn ra theo một hướng khác. Ở rừng, nhiều đồng đội khác giới ngưỡng mộ Ba Phi, biết ông bao năm vò võ một mình nên đem lòng thương yêu ông. Trong đời sống, nam nữ đều giống nhau, dù đã quên đi cái tuổi xuân để cống hiến cho Tổ quốc, nhưng sâu thẳm trong trái tim họ là những khát khao quyền được yêu thương cháy bỏng. Đã có lần, một nữ cứu thương, giọng nói đậm chất xứ Quảng, vờ chăm sóc rồi thỏ thẻ vào tai Ba Phi nóng hổi:
- Anh chỉ biết đánh giặc là tài thôi hà?
Ba Phi chưa hiểu thâm ý câu nói, bèn hỏi:
- Ý cô là…?
- Dạ là… là anh chỉ biết đánh giặc, ngoài ra hổng biết cái gì hết trơn.
- Là lính thì biết đánh giặc là tốt rồi, bộ cô còn muốn tui phải biết thêm…
- Biết những người xung quanh đang… quá trời nè.
Vẫn lấp lửng, khiến Ba Phi lúng túng. Ông vừa gãi vành tai vừa hỏi:
- Những người xung quanh, cái gì quá trời?
- Yêu anh quá trời nè…! Cô gái bạo phổi thật.
Không chút dối lòng, ông thổ lộ:
- Anh cám ơn cô! Trước khi ra Bắc, anh đã có gia đình, vợ con. Tụi anh hứa với nhau, dù hoàn cảnh nào cũng cố gắng chờ đợi đến ngày đoàn tụ. Anh không thể nào quên lời hứa đó, còn cô, ngày hòa bình sắp tới rồi, cô còn trẻ lắm, xinh đẹp lắm, hãy chờ đón một tương lai đẹp đẽ em gái nhé.
Thực tình, khi nghe một người con gái thổ lộ tình cảm, Ba Phi cũng thấy mềm lòng, xao xuyến, các mạch máu trên cơ thể ông rần rần chuyển động trong nỗi khát khao cháy bỏng. Song ông đã kịp bảo mình, cố giữ gìn thêm chút nữa. Hàng chục năm trên đất Bắc chẳng vướng bận gì thì thôi, giờ đây đã trở lại quê hương của mình, hãy cố giữ cho đến ngày gặp lại vợ con. Cứ thế, ông tế nhị tếu táo, rằng những ngày gian khổ ngoài Bắc, đã làm ông quên hết mọi thứ rồi. Nhưng ngầm ý của ông, muốn nói với mọi người rằng, hãy tập trung vào chiến dịch, chuyện đó tính sau cũng chưa muộn…
Cuối tháng Ba năm 1975, Đà Nẵng được giải phóng. Trong khung cảnh hỗn loạn, binh lính địch xô đẩy nhau tìm đường thoát thân… Tiếng còi xe hơi, lẫn tiếng la hét, nháo nhác bến Bạch Đằng. Xe cộ, súng ống, trang phục… ngổn ngang trên đường tháo chạy. Người dân Đà Nẵng phấn khởi đón cách mạng về tiếp quản, ông Ba Phi được bố trí giữ vị trí quan trọng trong chính quyền thành phố.
Gặp Thành, Ba Phi rơi nước mắt vì xúc động, thương vợ thương con. Nghe con trai kể chuyện mẹ, Ba Phi mừng vui khôn tả. Người vợ trẻ năm xưa của ông vẫn ở vậy một mực chờ chồng. Ba Phi sung sướng báo tin cho mọi người đã tìm được vợ con; gia đình ông vẫn bình an và đã trở về căn nhà cũ để đoàn tụ. Cả cơ quan đơn vị đều mừng cho ông, mừng cho tình yêu kiên trung bền bỉ nhiều hi sinh của Út Lan và Ba Phi. Thành được ba giữ lại tắm táp, mua đồ mới, nom cậu bảnh bao hẳn ra. Cuối chiều, hai bố con cùng về và cuộc đoàn tụ diễn ra ngay trên xóm nhỏ ven biển Hà Khê. Thấy mẹ đang hí húi làm gì ở sân, từ xa Thành gọi lớn:
- Má ơi... má...! Ba con về nè má ơi.
Nghe con trai gọi, bà Lan vội ngẩng lên nhưng sau đó bà ngồi thụp xuống, úp mặt trên hai đầu gối đôi vai gầy rung lên bần bật nức nở. Ông Phi bước tới, nhẹ nhàng ôm lấy người vợ sau bao năm xa cách. Nước mắt người đàn ông kiên trung bất khuất đã rơi đẫm trên gương mặt nhiều nếp chân chim.
Một đêm trăng trung tuần lại bắt đầu trên biển Hà Khê!