Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Theo tôi, các dạng thức của thơ trữ tình thường có thể chia theo mấy nhóm chính sau: Thơ trữ tình trực tiếp: Đây là dạng thơ trong đó cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của chủ thể trữ tình được bộc lộ trực tiếp. Ví dụ: nhà thơ nói thẳng nỗi nhớ, niềm yêu, nỗi buồn, khát vọng, cô đơn, đau đớn, hạnh phúc…Đặc điểm: Giọng thơ thường tha thiết, chân thành; Cái "tôi" xuất hiện rõ; Cảm xúc là trung tâm của bài thơ. Ví dụ các dạng nhỏ: Thơ tình yêu; Thơ nhớ quê hương;Thơ viết về mẹ, gia đình; Thơ tâm trạng, cô đơn, hoài niệm.

Thơ trữ tình gián tiếp: Ở dạng này, cảm xúc không nói thẳng mà được gửi qua hình ảnh, cảnh vật, biểu tượng, câu chuyện hoặc nhân vật. Ví dụ: nhà thơ tả mùa thu, cánh chim, dòng sông, bông hoa… nhưng thực chất là gửi gắm nỗi buồn, nỗi nhớ, suy tư về đời người. Đặc điểm: Cảm xúc ẩn sau hình ảnh; Thường giàu biểu tượng, hàm súc; Ý thơ có thể "ý tại ngôn ngoại" - ý nằm ngoài lời.

nh-nha-tho-h-i-du-ng-1954.jpg
Nhà thơ Hải Đường.

Thơ trữ tình phong cảnh: Là dạng thơ lấy thiên nhiên, cảnh vật làm đối tượng biểu hiện cảm xúc. Tuy nhiên, cảnh trong thơ trữ tình không chỉ là cảnh thật, mà còn là "cảnh tâm trạng".Ví dụ: mùa thu có thể gợi buồn; mùa xuân gợi hy vọng; chiều tà gợi chia xa; trăng gợi cô đơn hoặc sum họp. Đặc điểm: Cảnh và tình hòa quyện; Thiên nhiên mang màu sắc tâm trạng; Hình ảnh thường mềm mại, giàu chất gợi.

Thơ trữ tình nghiêng về phía lý trí

Qua các dạng thức nói trên của thơ trữ tình, ta còn có thể thấy các dạng thức thơ trữ tình nghiêng về phía tư duy lý trí dưới đây. Thơ trữ tình thế sự: Đây là dạng thơ bộc lộ cảm xúc trước đời sống xã hội, con người, thời cuộc, nhân tình thế thái. Nó không chỉ nói chuyện riêng tư mà còn hướng ra những vấn đề của xã hội. Đặc điểm: Có cảm xúc cá nhân nhưng gắn với nỗi đau, niềm lo, suy tư chung. Giọng thơ có thể day dứt, xót xa, phê phán hoặc chiêm nghiệm; Thường thể hiện trách nhiệm của nhà thơ trước đời sống. Ví dụ nội dung: Nỗi đau chiến tranh;Thân phận con người; Sự đổi thay của xã hội; Lẽ công bằng, nhân phẩm, đạo lý.

Thơ trữ tình công dân: Đây là dạng thơ thể hiện tình cảm của con người với đất nước, dân tộc, cộng đồng, lịch sử. Đặc điểm: Cái "tôi" cá nhân hòa vào cái "ta" chung. Cảm xúc thường lớn lao, trang trọng. Có thể mang âm hưởng sử thi, chính luận, tráng ca. Ví dụ: Thơ yêu nước, Thơ cách mạng,Thơ viết về người lính, Thơ về lịch sử, dân tộc, Tổ quốc.

Thơ trữ tình triết luận/ suy tưởng: Đây là dạng thơ không chỉ dừng ở cảm xúc mà còn nâng cảm xúc thành suy nghĩ về đời sống, con người, thời gian, số phận, sự sống và cái chết. Đặc điểm: Giàu chất suy tư; Cảm xúc đi cùng nhận thức; Ngôn ngữ thường cô đọng, nhiều tầng nghĩa. Ví dụ nội dung: Suy nghĩ về kiếp người;Thời gian và tuổi trẻ; Hạnh phúc và mất mát; Sự hữu hạn của đời người; Ý nghĩa của sống, yêu thương, hy sinh

Thơ tự sự - trữ tình: Đây là dạng thơ có yếu tố kể chuyện nhưng mục đích chính vẫn là bộc lộ cảm xúc. Bài thơ có thể kể một sự việc, một kỷ niệm, một cuộc gặp gỡ, một số phận… nhưng qua đó làm nổi bật tâm trạng và suy tư. Đặc điểm: Có câu chuyện hoặc tình huống; Có nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh nhưng cảm xúc trữ tình vẫn là linh hồn của bài thơ. Thơ trữ tình biểu tượng: Đây là dạng thơ dùng nhiều biểu tượng để gửi gắm cảm xúc và tư tưởng. Ví dụ: con thuyền, bến sông, cánh chim, ngọn lửa, cỏ cây, trăng, mưa, bóng tối, ánh sáng…Đặc điểm: Hình ảnh có sức gợi lớn; Cảm xúc không lộ ra trực tiếp; Bài thơ thường mở ra nhiều cách hiểu.

Có thể khái quát lại như sau: Thơ trữ tình gồm các dạng chính: trữ tình trực tiếp, trữ tình gián tiếp, trữ tình phong cảnh, trữ tình thế sự, trữ tình công dân, trữ tình triết luận, tự sự - trữ tình và trữ tình biểu tượng. Trong thực tế, một bài thơ hay thường không chỉ thuộc một dạng duy nhất. Nó có thể vừa là thơ phong cảnh, vừa là thơ tâm trạng; vừa có chất trữ tình thế sự, vừa mang màu sắc suy tưởng triết lý.

Từ trữ tình tự sự đến trữ tình suy tưởng

Trong một số nhà thơ Việt Nam thời hậu chiến, có thể thấy rõ khuynh hướng của dòng thơ tự sự trữ tình dẫn đến thơ trữ tình suy tưởng. Đây là một đặc diểm mới của thơ đương đại mà nhiều bạn yêu thơ muốn tìm hiểu. Theo tôi, đây là kiểu thơ không trực tiếp bắt đầu bằng lý luận hay tuyên ngôn tư tưởng, mà thường khởi đi từ một câu chuyện nhỏ, một cảnh đời cụ thể, một kỷ niệm riêng tư, rồi dần mở ra những suy ngẫm rộng hơn về con người, xã hội, thời gian, đạo lý và thân phận. Thơ kiểu này thường có yếu tố tự sự, có nhân vật, không gian, hoàn cảnh, sự việc. Nhưng những câu chuyện ấy không được kể dài dòng như truyện ngắn. Nhà thơ chỉ chọn vài chi tiết tiêu biểu để gợi ra cả một đời sống phía sau với câu chuyện đời thường được thấm qua cảm xúc trữ tình.

Ở một số cây bút đương đại, trong đó có nhà thơ Hải Đường (Đã in 7 tập thơ, 4 tập văn xuôi), kiểu thơ này có giọng điệu riêng: nhẹ mà sâu, giản dị mà ám ảnh, giàu cảm xúc nhưng không thiếu chiều sâu tư tưởng. Ông không biến thơ thành diễn đàn lý luận xã hội, mà để đời sống tự cất tiếng qua hình ảnh, nhân vật và những câu thơ lặng lẽ. Chính vì thế, thơ ông vừa có chất đời, vừa có chất tình, vừa có sức gợi suy tư lâu dài.

Bìa tập thơ mới của nhà thơ Hải Đường.

Bìa tập thơ mới của nhà thơ Hải Đường.

Trong tập thơ và tự truyện mới in "Mây vẫn bay - Người của một thời" do NXB Hội Nhà văn ấn hành, có thể nhìn thấy Hải Đường như một hồn thơ trữ tình tinh tế, nghiêng về phía duy cảm hơn duy lý, thì ở mạch thơ tiếp theo, ta lại thấy rõ hơn một đặc điểm quan trọng khác: tính trữ tình thế sự mang ý thức xã hội sâu sắc. Thơ Hải Đường không chỉ là thơ của tình riêng, của ký ức, của thiên nhiên, của gia đình, mà còn là thơ của những va đập đời sống của người nghèo, người lao động, của chiến tranh, đô thị hóa, sự mất gốc, của sự tha hóa của con người hiện đại, phẩm giá trong cảnh khốn khó, và nỗi đau âm thầm của những thân phận bị khuất lấp. Tuy nhiên, ông không viết thơ thế sự theo kiểu chính luận khô cứng. Ông không đứng trên cao để phán xét xã hội, mà cúi xuống lắng nghe đời sống, chạm vào từng chi tiết nhỏ rồi từ đó làm bật lên một suy tư lớn.

Tính "thế sự" trong thơ Hải Đường trước hết xuất phát từ một cái nhìn đời thường rất gần mặt đất. Ông quan tâm đến những con người không hào nhoáng: người đi bán sức lao động ở "chợ người", chú bé bán hàng rong trên xe lăn, lão ăn mày bên hồ Giơ-ne-vơ, cô giáo vùng cao, người chăn vịt, người lính cũ, người mẹ quê, người cha lam lũ. Những nhân vật ấy không được đặt vào các đại cảnh hoành tráng mà hiện ra trong nhịp sống thường ngày, qua vài nét rất gọn nhưng ám ảnh.

Trong bài "Chợ người", người nông dân nông nhàn ra phố làm thuê, "tinh mơ đã dậy, nửa đêm chưa về", từng làm đủ nghề từ thợ mộc, thợ nề, khuân vác, chạy bàn, đào than, đốn củi. Đời người hiện ra như một chuỗi trôi dạt, bấp bênh, "sông sâu mấy bận, đò đầy mấy phen" . Hai chữ "chợ người" đã đủ xót xa: ở đó, con người không bán hàng hóa mà bán sức lực, bán tuổi đời, bán cả sự bất lực của mình trước cơm áo.

Có thể nói, chính sự hòa quyện giữa chất trữ tình và chất thế sự đã làm nên chiều sâu riêng của thơ Hải Đường. Nếu chỉ có thế sự, thơ dễ thành báo chí hoặc chính luận. Nếu chỉ có trữ tình, thơ dễ khép vào tình riêng. Nhưng ở Hải Đường, tình riêng luôn mở ra đời chung; đời chung lại được cảm nhận bằng trái tim riêng. Vì thế, tính trữ tình thế sự trong thơ Hải Đường là một đóng góp đáng chú ý.

Nó cho thấy thơ không nhất thiết phải ồn ào mới có sức phản ánh xã hội. Đôi khi chỉ một nụ cười của chú bé bán hàng rong, một chiếc đồng hồ cũ, một cọng rơm trên mỏ chim sẻ, một người cúi đầu trong mưa, một câu dân ca trong suốt tận nguồn cũng đủ làm hiện lên cả một thời đại với những đổi thay, mất mát và hy vọng. Hải Đường đã đi vào thế sự bằng con đường của cảm xúc, và chính vì thế, thơ ông không chỉ nói với trí óc người đọc, mà còn chạm vào phần lương tri sâu kín nhất của con người.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.