Theo tôi, các dạng thức của thơ trữ tình thường có thể chia theo mấy nhóm chính sau: Thơ trữ tình trực tiếp: Đây là dạng thơ trong đó cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của chủ thể trữ tình được bộc lộ trực tiếp. Ví dụ: nhà thơ nói thẳng nỗi nhớ, niềm yêu, nỗi buồn, khát vọng, cô đơn, đau đớn, hạnh phúc…Đặc điểm: Giọng thơ thường tha thiết, chân thành; Cái "tôi" xuất hiện rõ; Cảm xúc là trung tâm của bài thơ. Ví dụ các dạng nhỏ: Thơ tình yêu; Thơ nhớ quê hương;Thơ viết về mẹ, gia đình; Thơ tâm trạng, cô đơn, hoài niệm.
Thơ trữ tình gián tiếp: Ở dạng này, cảm xúc không nói thẳng mà được gửi qua hình ảnh, cảnh vật, biểu tượng, câu chuyện hoặc nhân vật. Ví dụ: nhà thơ tả mùa thu, cánh chim, dòng sông, bông hoa… nhưng thực chất là gửi gắm nỗi buồn, nỗi nhớ, suy tư về đời người. Đặc điểm: Cảm xúc ẩn sau hình ảnh; Thường giàu biểu tượng, hàm súc; Ý thơ có thể "ý tại ngôn ngoại" - ý nằm ngoài lời.
Thơ trữ tình phong cảnh: Là dạng thơ lấy thiên nhiên, cảnh vật làm đối tượng biểu hiện cảm xúc. Tuy nhiên, cảnh trong thơ trữ tình không chỉ là cảnh thật, mà còn là "cảnh tâm trạng".Ví dụ: mùa thu có thể gợi buồn; mùa xuân gợi hy vọng; chiều tà gợi chia xa; trăng gợi cô đơn hoặc sum họp. Đặc điểm: Cảnh và tình hòa quyện; Thiên nhiên mang màu sắc tâm trạng; Hình ảnh thường mềm mại, giàu chất gợi.
Thơ trữ tình nghiêng về phía lý trí
Qua các dạng thức nói trên của thơ trữ tình, ta còn có thể thấy các dạng thức thơ trữ tình nghiêng về phía tư duy lý trí dưới đây. Thơ trữ tình thế sự: Đây là dạng thơ bộc lộ cảm xúc trước đời sống xã hội, con người, thời cuộc, nhân tình thế thái. Nó không chỉ nói chuyện riêng tư mà còn hướng ra những vấn đề của xã hội. Đặc điểm: Có cảm xúc cá nhân nhưng gắn với nỗi đau, niềm lo, suy tư chung. Giọng thơ có thể day dứt, xót xa, phê phán hoặc chiêm nghiệm; Thường thể hiện trách nhiệm của nhà thơ trước đời sống. Ví dụ nội dung: Nỗi đau chiến tranh;Thân phận con người; Sự đổi thay của xã hội; Lẽ công bằng, nhân phẩm, đạo lý.
Thơ trữ tình công dân: Đây là dạng thơ thể hiện tình cảm của con người với đất nước, dân tộc, cộng đồng, lịch sử. Đặc điểm: Cái "tôi" cá nhân hòa vào cái "ta" chung. Cảm xúc thường lớn lao, trang trọng. Có thể mang âm hưởng sử thi, chính luận, tráng ca. Ví dụ: Thơ yêu nước, Thơ cách mạng,Thơ viết về người lính, Thơ về lịch sử, dân tộc, Tổ quốc.
Thơ trữ tình triết luận/ suy tưởng: Đây là dạng thơ không chỉ dừng ở cảm xúc mà còn nâng cảm xúc thành suy nghĩ về đời sống, con người, thời gian, số phận, sự sống và cái chết. Đặc điểm: Giàu chất suy tư; Cảm xúc đi cùng nhận thức; Ngôn ngữ thường cô đọng, nhiều tầng nghĩa. Ví dụ nội dung: Suy nghĩ về kiếp người;Thời gian và tuổi trẻ; Hạnh phúc và mất mát; Sự hữu hạn của đời người; Ý nghĩa của sống, yêu thương, hy sinh
Thơ tự sự - trữ tình: Đây là dạng thơ có yếu tố kể chuyện nhưng mục đích chính vẫn là bộc lộ cảm xúc. Bài thơ có thể kể một sự việc, một kỷ niệm, một cuộc gặp gỡ, một số phận… nhưng qua đó làm nổi bật tâm trạng và suy tư. Đặc điểm: Có câu chuyện hoặc tình huống; Có nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh nhưng cảm xúc trữ tình vẫn là linh hồn của bài thơ. Thơ trữ tình biểu tượng: Đây là dạng thơ dùng nhiều biểu tượng để gửi gắm cảm xúc và tư tưởng. Ví dụ: con thuyền, bến sông, cánh chim, ngọn lửa, cỏ cây, trăng, mưa, bóng tối, ánh sáng…Đặc điểm: Hình ảnh có sức gợi lớn; Cảm xúc không lộ ra trực tiếp; Bài thơ thường mở ra nhiều cách hiểu.
Có thể khái quát lại như sau: Thơ trữ tình gồm các dạng chính: trữ tình trực tiếp, trữ tình gián tiếp, trữ tình phong cảnh, trữ tình thế sự, trữ tình công dân, trữ tình triết luận, tự sự - trữ tình và trữ tình biểu tượng. Trong thực tế, một bài thơ hay thường không chỉ thuộc một dạng duy nhất. Nó có thể vừa là thơ phong cảnh, vừa là thơ tâm trạng; vừa có chất trữ tình thế sự, vừa mang màu sắc suy tưởng triết lý.
Từ trữ tình tự sự đến trữ tình suy tưởng
Trong một số nhà thơ Việt Nam thời hậu chiến, có thể thấy rõ khuynh hướng của dòng thơ tự sự trữ tình dẫn đến thơ trữ tình suy tưởng. Đây là một đặc diểm mới của thơ đương đại mà nhiều bạn yêu thơ muốn tìm hiểu. Theo tôi, đây là kiểu thơ không trực tiếp bắt đầu bằng lý luận hay tuyên ngôn tư tưởng, mà thường khởi đi từ một câu chuyện nhỏ, một cảnh đời cụ thể, một kỷ niệm riêng tư, rồi dần mở ra những suy ngẫm rộng hơn về con người, xã hội, thời gian, đạo lý và thân phận. Thơ kiểu này thường có yếu tố tự sự, có nhân vật, không gian, hoàn cảnh, sự việc. Nhưng những câu chuyện ấy không được kể dài dòng như truyện ngắn. Nhà thơ chỉ chọn vài chi tiết tiêu biểu để gợi ra cả một đời sống phía sau với câu chuyện đời thường được thấm qua cảm xúc trữ tình.
Ở một số cây bút đương đại, trong đó có nhà thơ Hải Đường (Đã in 7 tập thơ, 4 tập văn xuôi), kiểu thơ này có giọng điệu riêng: nhẹ mà sâu, giản dị mà ám ảnh, giàu cảm xúc nhưng không thiếu chiều sâu tư tưởng. Ông không biến thơ thành diễn đàn lý luận xã hội, mà để đời sống tự cất tiếng qua hình ảnh, nhân vật và những câu thơ lặng lẽ. Chính vì thế, thơ ông vừa có chất đời, vừa có chất tình, vừa có sức gợi suy tư lâu dài.
Bìa tập thơ mới của nhà thơ Hải Đường.
Trong tập thơ và tự truyện mới in "Mây vẫn bay - Người của một thời" do NXB Hội Nhà văn ấn hành, có thể nhìn thấy Hải Đường như một hồn thơ trữ tình tinh tế, nghiêng về phía duy cảm hơn duy lý, thì ở mạch thơ tiếp theo, ta lại thấy rõ hơn một đặc điểm quan trọng khác: tính trữ tình thế sự mang ý thức xã hội sâu sắc. Thơ Hải Đường không chỉ là thơ của tình riêng, của ký ức, của thiên nhiên, của gia đình, mà còn là thơ của những va đập đời sống của người nghèo, người lao động, của chiến tranh, đô thị hóa, sự mất gốc, của sự tha hóa của con người hiện đại, phẩm giá trong cảnh khốn khó, và nỗi đau âm thầm của những thân phận bị khuất lấp. Tuy nhiên, ông không viết thơ thế sự theo kiểu chính luận khô cứng. Ông không đứng trên cao để phán xét xã hội, mà cúi xuống lắng nghe đời sống, chạm vào từng chi tiết nhỏ rồi từ đó làm bật lên một suy tư lớn.
Tính "thế sự" trong thơ Hải Đường trước hết xuất phát từ một cái nhìn đời thường rất gần mặt đất. Ông quan tâm đến những con người không hào nhoáng: người đi bán sức lao động ở "chợ người", chú bé bán hàng rong trên xe lăn, lão ăn mày bên hồ Giơ-ne-vơ, cô giáo vùng cao, người chăn vịt, người lính cũ, người mẹ quê, người cha lam lũ. Những nhân vật ấy không được đặt vào các đại cảnh hoành tráng mà hiện ra trong nhịp sống thường ngày, qua vài nét rất gọn nhưng ám ảnh.
Trong bài "Chợ người", người nông dân nông nhàn ra phố làm thuê, "tinh mơ đã dậy, nửa đêm chưa về", từng làm đủ nghề từ thợ mộc, thợ nề, khuân vác, chạy bàn, đào than, đốn củi. Đời người hiện ra như một chuỗi trôi dạt, bấp bênh, "sông sâu mấy bận, đò đầy mấy phen" . Hai chữ "chợ người" đã đủ xót xa: ở đó, con người không bán hàng hóa mà bán sức lực, bán tuổi đời, bán cả sự bất lực của mình trước cơm áo.
Có thể nói, chính sự hòa quyện giữa chất trữ tình và chất thế sự đã làm nên chiều sâu riêng của thơ Hải Đường. Nếu chỉ có thế sự, thơ dễ thành báo chí hoặc chính luận. Nếu chỉ có trữ tình, thơ dễ khép vào tình riêng. Nhưng ở Hải Đường, tình riêng luôn mở ra đời chung; đời chung lại được cảm nhận bằng trái tim riêng. Vì thế, tính trữ tình thế sự trong thơ Hải Đường là một đóng góp đáng chú ý.
Nó cho thấy thơ không nhất thiết phải ồn ào mới có sức phản ánh xã hội. Đôi khi chỉ một nụ cười của chú bé bán hàng rong, một chiếc đồng hồ cũ, một cọng rơm trên mỏ chim sẻ, một người cúi đầu trong mưa, một câu dân ca trong suốt tận nguồn cũng đủ làm hiện lên cả một thời đại với những đổi thay, mất mát và hy vọng. Hải Đường đã đi vào thế sự bằng con đường của cảm xúc, và chính vì thế, thơ ông không chỉ nói với trí óc người đọc, mà còn chạm vào phần lương tri sâu kín nhất của con người.