NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Trong cõi giới của văn học nghệ thuật, có nhiều người được trời xanh ưu ái lắm, những thức người như thế, làm gì cũng dễ! Họ không chỉ nổi bật ở một lĩnh vực nào đó của nghệ thuật, với các mảng khác, họ chỉ làm như chơi cũng khiến người khác phải xuýt xoa cảm phục. Có thể kể ra rất nhiều văn nghệ sĩ đa tài như thế đang hiện hữu trong đời sống văn học nghệ thuật hôm nay. Như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo với các mảng thơ - nhạc - hội họa; nhà văn Nguyễn Quang Thiều, nhà văn Trần Thị Trường, nhà văn Như Bình, nhà thơ Trần Nhương với văn chương và hội họa. Còn với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

untitled-3.jpg
NSƯT Kiều Dư.

NSƯT Kiều Dư tên đầy đủ là Kiều Khắc Dư, sinh năm Giáp Thìn 1964, tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cũ, nay là xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình. Trong thời gian học tại Nhạc viện Âm nhạc, Kiều Dư được NSND Quý Dương trực tiếp bồi dưỡng và uốn nắn giọng hát. Tốt nghiệp Nhạc viện Âm Nhạc năm 1985, anh về công tác tại Đoàn Ca múa nhạc tỉnh Hà Nam Ninh. Theo nhạc sỹ, nhà văn Nguyễn Đình San thì NSƯT Kiều Dư là người sở hữu chất giọng baryton (nam trung) dày, ấm áp, giàu màu sắc, lại mang yếu tố kịch tính, có thể hát nhiều dạng bài từ trữ tình đến anh hùng ca! Với 5 huy chương vàng và 14 huy chương bạc quốc gia, Kiều Dư được phong NSƯT từ năm 2007.

Từ 2001-2023 NSƯT Kiều Dư làm việc tại Nhà văn hóa 3-2 của tỉnh Nam Định. Anh đảm nhận vị trí Giám đốc Trung tâm Văn hóa điện ảnh và Triển lãm Nam Định từ năm 2011 đến năm 2023, sau đó về làm Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Nam Định. Sau khi Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Ninh Bình, NSƯT Kiều Dư là Phó chủ tịch Hội VHNT tỉnh Ninh Bình.

Trong thời gian Kiều Dư ở Nhà văn hóa 3-2, đã có rất nhiều lần chúng tôi ngồi với nhau trong phòng làm việc của anh cùng tiếng piano và khói xì gà lơ lửng! Căn phòng ấy có view rất đẹp với một ô cửa sổ lớn hướng ra tượng đài Đức Thánh Trần và hồ Vị Xuyên, chếch chút nữa về bên trái là mộ phần của cụ Tú Xương lừng lẫy của thành Nam với tiếng gọi đò vọng vào muôn thuở: Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. Còn hồ Vị Xuyên bây giờ chính là một đoạn còn lại của dòng sông Vị Hoàng cổ tích!

Có lần ngồi với anh ở căn phòng ấy, trong lơ mơ sương men, kẻ viết bài mới cao hứng mà luận rằng: Cái phòng làm việc của bác không chỉ đẹp về cảnh quan đâu nhé, mà xét về phong thủy Loan đầu, cùng với sự vận động của hệ phi tinh trong vận Bát bạch (từ 2004 - 2023) thì căn phòng này đáng được gọi là bảo địa đấy ngài ạ!

Chả biết có phải phòng ấy vượng phong thủy hay không, mà sau mười mấy năm "ngự" ở đấy, Kiều nhạc sĩ đã sáng tác hàng trăm bài hát và trong số ấy đã có rất nhiều ca khúc giành được những giải thưởng lớn ở tầm cỡ quốc gia! Đã có lần tôi đùa với anh: Ngài phải làm một cái gọi là Phòng truyền thống Kiều Dư, chứ với hàng trăm chứng nhận giải thưởng, bằng khen, huy chương vàng, bạc của các cấp thế này, thì biết đặt vào đâu cho hết hả giời!

NSƯT Kiều Dư sở hữu bộ sưu tập giải thưởng đồ sộ: 3 giải A; 3 Giải B; 4 giải C - Giải thưởng âm nhạc Việt Nam, của Hội nhạc sĩ Việt Nam. Sở hữu hàng loạt Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Văn hóa, của Liên hiệp các hội VNHT Việt Nam, của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, của UBND tỉnh Nam Định! Và vô số giấy chứng nhận giải thưởng từ các cuộc thi cấp bộ, cấp ngành, cấp tỉnh mà NSƯT Kiều Dư đã giành được từ hầu khắp các tỉnh thành của đất nước!

Anh cũng sở hữu 5 tập ca khúc đã được xuất bản…

Chỉ mới điểm ra từng ấy thôi, đã thấy hiện lên tầm vóc của một Kiều Dư với những phẩm chất nghệ sỹ tài hoa đích thực của thành Nam và nước non này!

*

Những thành công của NSƯT Kiều Dư mà chúng tôi vừa lược trích trên đây có lẽ cũng đã đủ để bạn đọc nhận diện đầy đủ hơn về một Kiều Dư nhạc sĩ, một Kiều Dư ca sĩ, một Kiều Dư đạo diễn và tổ chức biểu diễn trong đời sống văn hóa nghệ thuật đương đại. Bài viết này, xin dựng thêm chân dung một Kiều Dư thi sĩ qua những trang thơ của anh!

Thơ của Kiều Dư đa dạng về thể tài, ngôn ngữ thơ anh luôn hướng tới sự gợi mở và ám động! Đọc thơ anh, người ta nhận ra một phong cách thơ bảng lảng mà lắng gợi, thơ ấy được xây dựng bằng những câu chữ chặt chiệm và cô đọng của một tư duy thơ hiện đại!

Bìa các tác phẩm của NSƯT Kiều Dư.

Bìa các tác phẩm của NSƯT Kiều Dư.

Óng ả tiếng chuông lời thủ thỉ/ Câu kinh nhuộm sẫm dáng sư thầy/ Chú tiểu gom lá rơi về cội/ Nhen lên đốm lửa sưởi chiều nay/ Ngước lên xanh cao cõi Phật/ Thấy nhành dương liễu trổ hoa/ Mùa xuân đang về khắp ngả/ Niềm vui lan đến muôn nhà. (Chiều cuối năm).

Thơ, đôi khi cảm xúc có rồi, nhưng nếu quá chủ tâm dùng những đơn vị chữ lạ mà xây, mà tạc, thì lại thành những cụm kiến trúc vừa xa lạ vừa vô hồn. Nên chỉ khi mạch cảm xúc tự tại phát tiết vào câu chữ, thì thơ ấy mới thức gợi, mới sống động, nó có thể dung dị về câu chữ đấy, nhưng ý tứ thơ lại long lanh mà rất khó cầm:

Ta nghiêng chén hứng ráng chiều về muộn/ Giọt giọt buồn lạnh bước em ta/ Chiều chầm chậm chén sơn hà vừa rót/ Ta uống chiều chợt thương kiếp phong ba. (Thu xa).

Thơ Kiều Dư thấm đẫm cảm xúc, câu chữ trong trẻo, dung dị, đôi chỗ mộc mạc mà không hề dễ dãi. Quả thật, cái hay của thơ, cái gợi của thơ mà đặt được vào trong khuôn chữ dung dị mới là khó:

Ai thẹn thùng qua bến vắng/ Cải vàng lấm tấm triền sông/ Buồng cau nào chờ dạm hỏi/ Kìa ai thấp thoáng áo hồng. (Chiều cuối thu).

Trong nghề thơ, cái thực và cái giả của cảm xúc thơ rất dễ nhận ra. Thơ viết bằng cảm xúc đích thực luôn có sự lay gợi riêng bởi sự rung ngân của câu chữ:

Một lọn tóc nghiêng chao/ Ánh lên màu mực tím/ Gửi về người phía biển/ Sóng lòng bỗng trào dâng/ Hạ hiền trong mắt em/ Hoàng hôn vương màu khói/ Có gì sao khó nói/ Mà ngẩn ngơ bóng chiều (Hạ).

Trong thế giới thơ của Kiều Dư, những nỗi niềm nhân gian đã lặng sau một cuộc chữ sinh thành. Cái buồn, cái vui, cái đau, cái nhớ, cái trăn trở của cõi người, tất thảy đã được tái sinh trong một cõi chữ của thi ca:

Bước ai tím cả vườn cà/ Thương thầm bưởi nhớ gót ngà ngày xưa/ Em về đường cũ đung đưa/ Lúa đồng mơn mởn xanh vừa lối yêu (Mưa xuân).

Chúng ta đang bàn đến người thơ trong một Kiều Dư nghệ sỹ, một Kiều Dư lãng tử, bảng lảng, và sẵn sàng run rẩy cùng câu chữ. Tuy nhiên, điều cần lưu ý thêm ấy là mấy trăm bản nhạc, mấy trăm bài thơ mang riêng một "hơi chữ" mà anh tạo lập nên, tất cả đều được viết trong thời gian anh làm công tác quản lý văn hóa nghệ thuật ở Thành Nam. Điều này rất quan trọng, bởi thơ ấy, nhạc ấy mới là cảm xúc đích thực của tâm hồn người nghệ sỹ:

Giữa đồng xanh hồn ta bỗng mênh mông/ Cỏ mần trầu thơm một miền xa ngái/ Có khi nào in dấu chân khờ dại/ Lòng gặp lòng biếc mãi giấc Giêng hai. (Dấu mùa đi).

Đọc thơ Kiều Dư của mười lăm năm về trước, và Kiều Dư của những câu thơ hôm nay, vẫn thấy cái mạch chữ ấy hiển hiện, dẫu cách nói và góc nhìn của anh có thể khác, nhưng cái "vân chữ, hơi chữ" ấy đã ám vào nghiệp thơ anh! Với một người làm thơ, để định hình được những nét riêng ấy trong suốt quá trình sáng tác của mình, thế là đã thành công vậy!

*

Hơn bốn mươi năm đam mê, cần mẫn cùng văn học nghệ thuật, với những thành công ấy, NSƯT Kiều Dư đã và đang là một trong những văn nghệ sỹ tên tuổi hàng đầu của miền Nam Định - Ninh Bình trong thời hội nhập này!

Mới ngoài tuổi lục tuần, cái tuổi của thong dong và buông bỏ, cái độ tuổi thường xuất hiện những tác phẩm lớn ở nhiều văn nghệ sỹ thời nay! Thì với giọng ca ấy, với dòng nhạc ấy, và những trang thơ ấy, chắc chắn ngài Kiều Dư - ba trong một sẽ còn cống hiến cho cuộc đời này nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị! Xin được ghi nhận và chờ đợi!

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.