Trần Đắc Túc, người "chơi dao" ở "làng Đống"

Thực ra thì nhà văn Trần Đắc Túc có bao giờ làm nghề thợ rèn hay buôn bán dao rựa gì đâu mà gọi là "người chơi dao". Thân phụ nhà văn vốn là một giáo làng, dạy tiểu học, cuối đời thì làm thầy lang bốc thuốc Nam, giúp dân làng. Tít bài báo này là do tôi mượn hai truyện ngắn "Chơi dao" và "Đêm làng Đống" của ông mà thành. Đó là hai truyện ngắn xuất sắc.

1. Thực ra thì nhà văn Trần Đắc Túc có bao giờ làm nghề thợ rèn hay buôn bán dao rựa gì đâu mà gọi là "người chơi dao". Thân phụ nhà văn vốn là một giáo làng, dạy tiểu học, cuối đời thì làm thầy lang bốc thuốc Nam, giúp dân làng. Tít bài báo này là do tôi mượn hai truyện ngắn "Chơi dao" và "Đêm làng Đống" của ông mà thành. Đó là hai truyện ngắn xuất sắc.

Nhà văn Đức Ban người cùng tuổi Đinh Hợi, bạn cùng học, nhớ lại thời điểm Trần Đắc Túc hoàn thành "Chơi dao", khoảng năm 1993. Truyện lấy bối cảnh nông thôn. Vì làng xuất hiện nhiều kẻ trộm vặt, nên để bảo vệ ao cá nhà mình, ông Viện - Trưởng thôn nghĩ ra một "kế sách" tâm đắc, đó là thuật "lấy độc trị độc".

nhà van tr%3fn ð%3fc túc.jpg -1
Nhà văn Trần Đắc Túc.

Ông Viện chọn một kẻ láu cá có tên là "Đinh vịt" làm trưởng ban bảo vệ. Không ngờ với bản chất lưu manh, Đinh vịt đã lấy thế đó để hoành hành. Đến khi ông Viện nhận ra thằng Đinh vịt quá vô lại, muốn thải hồi nhưng chẳng thể được, vì trót dính với nó rồi. Rốt cuộc ông Viện thân bại, danh liệt. Trần Đắc Túc mượn hai chữ "chơi dao" như một điển ngữ từ câu tục ngữ "Chơi dao có ngày đứt tay" để chuyển tải tư tưởng của truyện ngắn. Bây giờ vẫn còn vô khối người như ông Viện, có người làm chủ được "con dao", có người "đứt tay" như ông Viện trong truyện ngắn của ông.

Nhà văn Đức Ban cho rằng, những năm đầu chín mươi thế kỷ trước, có được cái truyện viết chặt chẽ, dồn nén và có tính ẩn dụ như thế là hiếm, là hay. Rồi "Chơi dao" được giải thưởng, Hội Nhà văn Việt Nam tuyển vào cuốn "Những truyện ngắn hay" cùng năm.

Còn "Đêm làng Đống" kể về những câu chuyện ở cái làng nông thôn đang chuyển mình thành thị tứ. Biết bao câu chuyện dở khóc, dở cười, biết bao phận người đang bị lai căng đô thị và lối làm ăn chụp giật, mánh mung... tấn công vào làng quê thuần nông vốn đang yên lành, con người bao đời nay "tắt lửa tối đèn có nhau". Nhà văn Trần Đắc Túc dùng từ "đêm" theo nghĩa ẩn dụ của ngôn ngữ là vì vậy.

Cả hai truyện này, vừa được nhà văn Trần Đắc Túc tuyển chọn, in trong tập "Trần Đắc Túc - Truyện ngắn, ký và tản văn", NXB Văn học, quý IV/2025. Phần truyện ngắn có 9 tác phẩm; phần ký và tản văn có 17 tác phẩm và 3 phụ lục. Cho đến nay, nhà văn Trần Đắc Túc đã in "Mưa chuyển mùa" (Tập truyện ký), "Ngó lên dáng núi" (Ký và tạp bút), "Hoa lác bẹ màu tím" (tập truyện ngắn); "Đêm làng Đống", NXB Hội Nhà văn năm 2012.

Việc nhà văn Trần Đắc Túc xuất bản tác phẩm mang đến cho bạn bè văn chương ở Xứ Nghệ và các văn hữu biết đến ông sự phấn khởi. Nguyên nhân, nhà văn Trần Đắc Túc có một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng đã vượt lên khó khăn, giữ trọn đam mê văn chương.

2. Truyện ngắn của ông tập trung đề tài nông thôn, về mấy ông "nhà quê". Nhà văn Đức Ban nhận xét: "Đọc văn xuôi Trần Đắc Túc, người ta cứ ngỡ ông chưa hề ra khỏi làng. Làng ám ảnh, ngự trị, khắc khoải trong tâm tưởng Trần Đắc Túc. Phong vị, khí vị của làng tạo nên phong cách văn của ông. Đây là thứ văn xuôi có kết cấu chặt, ngôn ngữ tinh tế, bộn bề nhưng rất rành mạch".

Cũng đúng thôi, cái làng nhỏ, xưa có tên Thổ Sơn, rồi Phúc Sơn (nay là một làng trong vô số làng của xã Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) là nơi ông sinh ra lớn lên. Làng ông một phía giáp sông Nghèn, ba phía là cánh đồng. Đường làng cứ ríu vào nhau, trước mặt, sau lưng những căn nhà nhỏ nông thôn. Cái làng ấy, họ Trần Đắc nhà ông bao đời nay quần tụ, lập nghiệp - là một dòng họ đông đúc, có vị thế. Mở cổng nhà ông đi bộ chừng 300 mét là đến cánh đồng. Ngoảnh phía nào cũng nghe mùi bùn non, thơm lúa chín.

Đọc truyện ngắn Trần Đắc Túc, có thể tên là "làng Đống", "làng Vòng" hay các tên làng trong "Hoa lác bẹ màu tím", "Mưa rừng", "Rằm tháng 7", "Rượu đắng", "Cửa ngoài chưa khoá"... người đọc mường tượng rằng có bóng dáng của làng Thổ Sơn. Những nhân vật văn học như ông Đảm, bà Mai, ông Viện... là những người nông dân lam lũ ở cái làng đó bước vào truyện ngắn, có một đời sống khác trong văn bản văn học.

Nói về truyện ngắn, nhà văn Trần Đắc Túc có tài kể chuyện, hệ thống ký hiệu giữa dân dã, hóm hỉnh, giễu nhại, vừa hiện đại. Nhờ đó, người đọc cảm giác rằng ông chỉ là người giỏi kể chuyện, thuật chuyện... mà thôi. Thế nhưng, vô vàn những tình tiết, sự kiện, câu chuyện nhỏ, được xâu chuỗi, cứ thế đầy lên, nảy nở... Trong tác phẩm của Trần Đắc Túc, "chuyện làng" với số phận, bi kịch của người nông dân luôn tạo ra cảm xúc, tạo nghĩa, lôi cuốn người đọc.

Giữa lúc nhà văn Trần Đắc Túc bước vào "độ chín" của sáng tạo, rểnh rang sáng tác sau một năm nghỉ hưu thì bất ngờ bị đột quỵ. Ông là một nhà văn vừa trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2017) thì bị tai biến. Nghĩ đến ông, ngồi trước ông, thấy tiếc. Từ đó đến nay, hơn chục năm qua là một hành trình, tập đi, tập đứng, tập nói, tập viết, tập mổ cò trên bàn phím. Thời gian đầu, chị Trần Thị Dung vợ ông tận tụy làm một "trợ lý nhà văn", từ tìm giấy, giữ ngón tay cho ông tập viết, di con chuột máy tính... Cũng may, Trần Đắc Túc hồi phục từng phần cảm xúc, làm chủ từng phần hành vi trong đời sống và lại viết được. Dẫu còn nhiều khó khăn.

3.Trần Đắc Túc lớn lên thì chiến tranh, nói như nhà văn Đức Ban "bom đạn như vãi trấu". Trần Đắc Túc phiêu bạt lên vùng Tây Bắc. Chẳng hiểu số phận sắp đặt thế nào đó, cũng chẳng rõ mạch nguồn, ông "xuôi" về Bắc Thái (cũ) và trở thành cán bộ Tuyên huấn Nhà máy Cơ khí Sông Công. Rồi nhờ Đức Ban "chỉ lối", ông được chuyển về Nghệ Tĩnh (cũ) về làm việc tại Nhà máy dệt kim Hoàng Thị Loan.

Cuộc sống cứ thế xoay vần, Nghệ Tĩnh chia tách thành Nghệ An, Hà Tĩnh. Thời gian, ông lại "dịch chuyển" về gần làng, làm ở Đài Phát thanh của huyện Can Lộc (cũ), ngay cạnh cái làng Thổ Sơn. Sau đó, có lẽ do "có tài", Trần Đắc Túc được chuyển vào "Nhà Đài" của Hà Tĩnh; từ Phòng Văn nghệ, rồi đến Phòng Chuyên đề. Có đất dụng võ.

bìa tác ph%3fm.jpg -0
Bìa tác phẩm của nhà văn Trần Đắc Túc.

Trần Đắc Túc bị cuốn vào cuộc sống. Ông hùng hục viết ký, tùy bút và... làm phim phóng sự - tư liệu. Đó là phim về các lãnh tụ của Đảng như Tổng Bí thư Trần Phú, Hà Huy Tập; các danh nhân lịch sử, văn hóa như Phan Đình Phùng, Lý Tự Trọng và nhiều phim khoa giáo khác. Trần Đắc Túc đều lo "trọn gói". Ông viết kịch bản, lời bình, đến khi tổ chức sản xuất thì kiêm luôn đạo diễn, lẫn đọc lời bình. Hầu hết đều đã phát trên sóng quốc gia, cả kênh đối ngoại. Nhiều phim trong số đó còn đoạt giải cao trong các kỳ Liên hoan Truyền hình toàn quốc.

Năm 2005, để làm phim về cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Tổng Bí thư (năm 2006), ông cùng ê-kíp lặn lội vào TP.Hồ Chí Minh phỏng vấn GS. NGND, Anh hùng Lao động thời kỳ Đổi mới Trần Văn Giàu - người học cùng trường Đại học Phương Đông Moscow với Hà Huy Tập; ra Hà Nội phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Biết bao khó khăn, từ sắp xếp lịch, nhân vật phỏng vấn đều quá lớn tuổi. Nhưng rồi tất cả mỹ mãn. Được gặp các nhân vật lịch sử mà ông kính trọng, làm xong phim, phát sóng, ông bảo: "Đấy là huân chương lớn nhất trong đời, mình được thưởng". Trần Đắc Túc từng được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Chị Trần Thị Dung vợ anh, một cô giáo làng cưng chiều anh có tiếng. Biết khách đến bao giờ cũng om sẵn ấm nước chè xanh. Ông nói, cho được "chè xanh ra chè xanh" để các ông già, bà lão láng giềng thích là công phu lắm, nghệ thuật lắm. Nước ủ chín, ông ra góc vườn đứng dưới cây chuối ngoảnh bốn phía cất giọng tha thiết "Mời bà con sang uống nước chè xanh đớ...". Lát sau thì nhà ông râm ran tiếng cười nói. Nghe cách xưng hô, cử chỉ của họ, tôi biết ông được bà con tôn trọng. Dân Trảo Nha chỉ nể tình người, sự tử tế, coi chức tước, địa vị bằng "nửa con mắt".

Trần Đắc Túc nóng tính có tiếng. Có lần tôi nói: "Anh chẳng là cái đinh gì, chỉ được mỗi cái Đinh Hợi, mà ra lệnh lắm thế?". Ông cười, rất chi là duyên, dẫu sau tai biến, miệng vẫn còn méo. Tác phẩm của Trần Đắc Túc không phải là nhiều nhưng lắng đọng, có sức lan tỏa. Nghĩ tiếc, vì trời không cho ông sức khỏe. Con người ông không chú tâm vào cái danh, cái lợi, ngay cả từ văn chương, con chữ ông dù ít nhưng là máu thịt của mình, đã trọn phận sự với làng.

Ngô Đức Hành

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.