Trăm năm còn gió heo may

Kỷ niệm một năm đôi uyên ương tài hoa Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng bay về miền mây trắng, hai người con gái của họ là Hoàng Dạ Thư và Hoàng Dạ Thi đã tuyển chọn những bài thơ cha mẹ mình từng viết tặng nhau, để in thành tập thơ “Trăm năm còn gió heo may”.

Sinh ngày 18/9/1949 tại Lệ Thủy - Quảng Bình, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ thành danh từ bài thơ “Khoảng trời hố bom” viết về sự hy sinh của nữ thanh niên xung phong trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên mảnh đất Bình Trị Thiên khói lửa.

Lớn lên trong gia đình nghèo lại thiếu bóng dáng người cha, nhưng Lâm Thị Mỹ Dạ thời thanh xuân vẫn tự tin giữa vòng tay bạn bè nhờ nhan sắc xinh đẹp và tài năng thi ca. Tuổi hai mươi, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ được rất nhiều chàng trai theo đuổi. Vậy mà, trái tim trong trẻo ấy bỗng loạn nhịp vì một người đàn ông lớn hơn 12 tuổi, đã từng trải trên con đường cách mạng lẫn con đường văn chương.

Ngày hạnh ngộ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, sự run rẩy tràn ra trang thơ Lâm Thị Mỹ Dạ: “Mẹ không có cửa nhà/ Em - đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa/ Ngày ấy anh đã có/ Một tuổi thơ êm đềm/ Suốt ngày được cười hát/ Trong gia đình ấm êm/ Anh chẳng biết nơi xa/ Một cuộc đời đã nở/ Anh chẳng biết có em/ Giữa khí trời đang thở”.

v- ch-ng thi si hoàng ph- ng-c tu-ng và lâm th- m- d-.jpg -1
Vợ chồng thi sĩ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ.

Bắt đầu hẹn hò từ năm 1972, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ thú nhận: “Những câu thơ hay nhất/ Về hạnh phúc tình yêu/ Lòng vui em nhẩm đọc/ Và ao ước một chiều/ Ngồi bên anh yêu dấu/ Đọc những lời thơ yêu/ Nhưng đến lúc gặp anh/ Em chẳng còn thuộc nữa/ Cái nhìn anh yêu thương/ Đốt lòng em ngọn lửa/ Và bỗng dưng em thấy/ Trong mắt anh đắm say/ Những câu thơ run rẩy/ Những câu thơ trốn chạy/ Những câu thơ cháy rồi”. Ngược lại, sự hồn nhiên của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cũng khiến nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường xao xuyến: “Nháy hoài trong cây khuya/ Một ngôi sao xanh biếc/ Là mắt em tinh nghịch/ Trốn tìm qua đời anh”.

Trước khi gặp gỡ mối duyên trăm năm của đời mình, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có tập bút ký “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” rất được tán thưởng, nhưng chưa ai thấy ông công bố bài thơ nào. Vậy mà, từ ngày sánh bước với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, thì bên cạnh các trang văn giàu suy tưởng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lại xuất hiện nhiều vần điệu trữ tình.

Tháng 10/1973, sau lễ cưới với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tổ chức tại Hà Nội, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết bài thơ khá dài có tên gọi “Một thân cây, một tàng lá, một bông hoa” để tặng người vợ trẻ: “Chùm hoa sữa đầu mùa/ Tỏa một vùng hương ấm/ Xôn xao trong lòng anh/ Như mùa thu nhạy cảm/ Nghe hương bay từ xa/ Biết một chùm hoa nắng/ Những ngày sắp đi xa/ Hiểu lòng anh thầm lặng/ Cho ước mong mai sau/ Đời đơm hoa kết nụ/ Xõa làn tóc ban đầu/ Hương bay đầy mái phố”.

Tổ ấm của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trở nên rộn rã hơn với đứa con gái đầu lòng Hoàng Dạ Thư. Trong không gian hạnh phúc mới, thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ có nhiều chuyển biến mới, vừa có niềm bâng khuâng “Trời anh mênh mông/ Mây em bay lượn/ Gió anh bao la/ Cây em ve vuốt/ Đất anh thẳm sâu/ Lúa em cúi đầu” vừa có nỗi băn khoăn “Em sợ lời khen của anh/ Như sợ chiều về, hắt lối/ Nhiều khi ngồi buồn một mình/ Trách anh sao mà nông nổi/ Hãy chỉ cho em cái kém/ Để em làm người tốt lành/ Hãy chỉ cho em cái xấu/ Để em chăm chút đời anh”.

Non sông thống nhất, Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa nhau về Huế vun đắp gia đình. Bên dòng sông Hương vương vấn cổ tích, nhịp sống hòa bình với những bộn bề lại mang đến thử thách khác cho uyên ương mơ mộng. Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ làm thơ nhắn nhủ vợ: “Nhiều lần anh hỏi Dạ/ Em có được vui lòng/ Bên đời anh rất nhỏ/ Giữa cuộc đời riêng chung” mà ông còn làm thơ nhắc nhở mình: “Giữ hoài cho màu nước/ Sáng trong như lòng tin/ Đừng để thấy trong em/ Gương mặt tôi tan vỡ”.

Năm 1976, căn nhà nhỏ của Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường đón thêm con gái thứ hai Hoàng Dạ Thi. Cả vợ chồng đều biên chế ở Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên với đồng lương bao cấp, cái ăn cái mặc cũng thành sự mệt mỏi thường nhật. Áo cơm túng bấn lấn át lãng mạn, lắm lúc khiến họ thấy ngột ngạt. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ an ủi chồng: “Chúng ta sống hòa vào nhau làm một/ Như đất kia cần có khí trời/ Như sông núi ruộng đồng chim lá/ Nếu anh sống vô tư cao cả/ Và vui tươi dũng cảm cần cù/ Sự già nua sẽ chẳng đến cùng ta/ Tâm hồn em mãi đẹp như buổi sớm”.

Dù nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường không phải người Huế gốc gác, nhưng họ chọn Huế làm quê hương và họ góp phần không nhỏ cho sự phong phú màu sắc văn hóa xứ Huế. Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành những nét chấm phá độc đáo của văn chương Cố đô. Tuy nhiên, thời gian gắn bó xứ Huế, cũng có hai giai đoạn vợ chồng họ chấp nhận sống xa nhau.

Giai đoạn thứ nhất, kéo dài 4 năm, từ 1979 đến 1983, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ ra Hà Nội học Trường Viết văn Nguyễn Du. Giai đoạn thứ hai, kéo dài 5 năm, từ 1989 đến năm 1994, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ra Quảng Trị để sáng lập và làm Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt. Đó là năm tháng mà tài năng của mỗi người đều chín muồi trong sự nghiệp, nhưng tình cảm cũng có những xáo trộn riêng tư. Nếu nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có những giây phút ngổn ngang “Giá mà ta được là sông/ Biết ra tới biển là không còn mình/ Bất cần ngàn sóng coi khinh/ Mặn mòi đã thấu, tan mình sá chi”, thì nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thảng thốt: “Buồn từ dạo ấy chưa nguôi/ Ngoài kia sương khói đã trời sang thu/ Ta còn một chút phù du/ Hóa thành một kiếp đền bù cho em”...

Hai con người mang hai cá tính sáng tạo, thường không dễ sống chung. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đằm thắm và mềm mại, còn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trầm tư và sâu sắc. Không phải đồng sàng dị mộng, nhưng hai con người quá hiểu nhau lại hiếm khi giải bày với nhau. Chính nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc bạch “Vẽ tôi một đóa bông hồng/ Tàn phai từ bữa em cầm trên tay/ Vẽ tôi một nét môi cười/ Một dòng nước mắt, một đời phù du”, nên ông luôn loay hoay trong sự trống vắng “Những chiều Bến Ngự giăng mưa/ Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi/ Tôi ra mở cửa đón người/ Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang”.

Hai đứa con gái Hoàng Dạ Thư và Hoàng Dạ Thi dần dần lớn lên và lập nghiệp phương xa. Vợ chồng Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp tục cuộc sống mỗi người một bàn viết, mỗi người một ngọn đèn, mỗi người một ước vọng, mỗi người một chân trời. Trong căn nhà ít tiếng nói tiếng cười ấy, hai tâm hồn cô độc lại học cách vỗ về nhau, bằng sự trân trọng dành cho nhau. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ viết: “Em biết những lời yêu còn ở trong anh/ Như ốc đảo xanh nằm trong sa mạc/ Nhưng trước em, anh lặng im như cát/ Chính điều này làm em yêu anh”.

tap tho tram nam.jpg -0
Tập thơ chung của vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường - Lâm Thị Mỹ Dạ.

Tất nhiên, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng cảm nhận đầy đủ ân tình từ phía vợ. Ngoài những khoảnh khắc rối bời “Em gọi tên tôi khắp mọi nơi/ Gọi tôi vang động cả vòm trời/ Tôi ngồi im vắng như lau sậy/ Mờ mịt như màu sương khói thôi”, ông công khai những lời tri ân hiền thê: “Xin biết ơn, trên bàn tay và gương mặt em/ Mỗi ngày lo toan vất vả/ Đất nước vẫn còn thời buổi khó/ Làm sao anh đỡ đần/ Cũng đôi khi bạn bè gặp gỡ/ Em rót cho anh ly rượu đầy/ Em cho anh một chiều thong thả/ Chỉ nhắc chừng anh say/ Không đâu em, trong ly rượu này/ Anh vẫn nghe vị chát những rễ cây dại/ Của ngọn cỏ hoang nào anh không biết tên/ Bạn bè anh đã ăn qua những năm đói/ Bao năm qua anh uống nước suối trong rừng/ Em đừng băn khoăn/ Nếu anh vẫn mang đôi giày cũ/ Đôi bít tất đã sờn/ Chắc em chưa quên/ Anh đã về tìm em/ Bằng đôi dép mòn nhảy qua núi đá/ Ngày ấy em cười anh gầy như mũi tên”.

Năm 1998, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bất ngờ bị tai biến. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ bỏ hết mọi đam mê thi ca để chăm sóc chồng. Trước cú đánh choáng váng của số phận, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trở nên cứng cỏi hơn: “Bàn tay nâng em thành bảo mẫu/ Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười/ Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng/ Giữa tháng ngày trĩu nặng/ Em đứng thẳng người/ Cho anh tựa vào em”. Nghe ở đâu có thuốc hay thầy giỏi thì bà đều nỗ lực đưa ông đi chữa trị, lúc lên rẻo cao Tây Bắc, lúc xuống miệt vườn Nam Bộ. Nhờ sự nhẫn nại và sự tận tụy của vợ, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thoát khỏi lưỡi hái tử thần, để gắng gượng ngồi viết trên chiếc xe lăn.

Những trang văn sau cơn đột quỵ của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lấp lánh lòng bao dung của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, như cách bà buông bỏ hết mọi ràng buộc danh lợi để còn có ông bên cạnh: “Thả trăng cho rằm/ Thả mây cho gió/ Thả xanh cho cỏ/ Tôi về với tôi/ Thả người thục nữ/ Hồn nhiên nói cười/ Thả người tục lụy/ Danh vọng đua đòi/ Thả hết thả hết/ Tôi về với tôi…/ Đời bao phúc họa/ Gieo, gặt bất ngờ/ Mỏi không thể nghỉ/ Đau không thể kêu/ Người im như bóng/ Tôi về với tôi…/Thả chùm tóc bạc/ Trắng cả ngàn năm”.

Sau gần 20 năm lo lắng cho chồng, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ mắc bệnh Alzheimer. Trí nhớ suy giảm, bà lãng quên từng sự việc mỗi ngày, lãng quên cả những câu thơ khắc khoải “Mịt mù trong khoảng bể dâu/ Tuổi người một chấm biết đâu kiếm tìm/ Chỉ còn đây một trái tim/ Trẻ trung nồng ấm của mình cho ta”.

Ngày 7/6/2023, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vẫy tay chào từ biệt dương gian. Hơn một tháng sau, ngày 24/7/2023, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng khép lại đôi mắt trần thế, để bay về cõi hư vô với người vợ thi sĩ tài hoa, yếu đuối và nhọc nhằn. Ơn nghĩa tào khang nửa thế kỷ của họ còn ngọt ngào dư vị trong câu thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường vang vọng: “Dù năm dù tháng em ơi/ Tim anh chỉ đập một đời/ Nhưng trái tim mang vĩnh cửu/ Trong từng giọt máu đỏ tươi”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.