Trăm năm còn gió heo may

Kỷ niệm một năm đôi uyên ương tài hoa Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng bay về miền mây trắng, hai người con gái của họ là Hoàng Dạ Thư và Hoàng Dạ Thi đã tuyển chọn những bài thơ cha mẹ mình từng viết tặng nhau, để in thành tập thơ “Trăm năm còn gió heo may”.

Sinh ngày 18/9/1949 tại Lệ Thủy - Quảng Bình, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ thành danh từ bài thơ “Khoảng trời hố bom” viết về sự hy sinh của nữ thanh niên xung phong trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên mảnh đất Bình Trị Thiên khói lửa.

Lớn lên trong gia đình nghèo lại thiếu bóng dáng người cha, nhưng Lâm Thị Mỹ Dạ thời thanh xuân vẫn tự tin giữa vòng tay bạn bè nhờ nhan sắc xinh đẹp và tài năng thi ca. Tuổi hai mươi, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ được rất nhiều chàng trai theo đuổi. Vậy mà, trái tim trong trẻo ấy bỗng loạn nhịp vì một người đàn ông lớn hơn 12 tuổi, đã từng trải trên con đường cách mạng lẫn con đường văn chương.

Ngày hạnh ngộ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, sự run rẩy tràn ra trang thơ Lâm Thị Mỹ Dạ: “Mẹ không có cửa nhà/ Em - đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa/ Ngày ấy anh đã có/ Một tuổi thơ êm đềm/ Suốt ngày được cười hát/ Trong gia đình ấm êm/ Anh chẳng biết nơi xa/ Một cuộc đời đã nở/ Anh chẳng biết có em/ Giữa khí trời đang thở”.

v- ch-ng thi si hoàng ph- ng-c tu-ng và lâm th- m- d-.jpg -1
Vợ chồng thi sĩ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ.

Bắt đầu hẹn hò từ năm 1972, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ thú nhận: “Những câu thơ hay nhất/ Về hạnh phúc tình yêu/ Lòng vui em nhẩm đọc/ Và ao ước một chiều/ Ngồi bên anh yêu dấu/ Đọc những lời thơ yêu/ Nhưng đến lúc gặp anh/ Em chẳng còn thuộc nữa/ Cái nhìn anh yêu thương/ Đốt lòng em ngọn lửa/ Và bỗng dưng em thấy/ Trong mắt anh đắm say/ Những câu thơ run rẩy/ Những câu thơ trốn chạy/ Những câu thơ cháy rồi”. Ngược lại, sự hồn nhiên của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cũng khiến nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường xao xuyến: “Nháy hoài trong cây khuya/ Một ngôi sao xanh biếc/ Là mắt em tinh nghịch/ Trốn tìm qua đời anh”.

Trước khi gặp gỡ mối duyên trăm năm của đời mình, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có tập bút ký “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” rất được tán thưởng, nhưng chưa ai thấy ông công bố bài thơ nào. Vậy mà, từ ngày sánh bước với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, thì bên cạnh các trang văn giàu suy tưởng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lại xuất hiện nhiều vần điệu trữ tình.

Tháng 10/1973, sau lễ cưới với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tổ chức tại Hà Nội, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết bài thơ khá dài có tên gọi “Một thân cây, một tàng lá, một bông hoa” để tặng người vợ trẻ: “Chùm hoa sữa đầu mùa/ Tỏa một vùng hương ấm/ Xôn xao trong lòng anh/ Như mùa thu nhạy cảm/ Nghe hương bay từ xa/ Biết một chùm hoa nắng/ Những ngày sắp đi xa/ Hiểu lòng anh thầm lặng/ Cho ước mong mai sau/ Đời đơm hoa kết nụ/ Xõa làn tóc ban đầu/ Hương bay đầy mái phố”.

Tổ ấm của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trở nên rộn rã hơn với đứa con gái đầu lòng Hoàng Dạ Thư. Trong không gian hạnh phúc mới, thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ có nhiều chuyển biến mới, vừa có niềm bâng khuâng “Trời anh mênh mông/ Mây em bay lượn/ Gió anh bao la/ Cây em ve vuốt/ Đất anh thẳm sâu/ Lúa em cúi đầu” vừa có nỗi băn khoăn “Em sợ lời khen của anh/ Như sợ chiều về, hắt lối/ Nhiều khi ngồi buồn một mình/ Trách anh sao mà nông nổi/ Hãy chỉ cho em cái kém/ Để em làm người tốt lành/ Hãy chỉ cho em cái xấu/ Để em chăm chút đời anh”.

Non sông thống nhất, Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa nhau về Huế vun đắp gia đình. Bên dòng sông Hương vương vấn cổ tích, nhịp sống hòa bình với những bộn bề lại mang đến thử thách khác cho uyên ương mơ mộng. Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ làm thơ nhắn nhủ vợ: “Nhiều lần anh hỏi Dạ/ Em có được vui lòng/ Bên đời anh rất nhỏ/ Giữa cuộc đời riêng chung” mà ông còn làm thơ nhắc nhở mình: “Giữ hoài cho màu nước/ Sáng trong như lòng tin/ Đừng để thấy trong em/ Gương mặt tôi tan vỡ”.

Năm 1976, căn nhà nhỏ của Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường đón thêm con gái thứ hai Hoàng Dạ Thi. Cả vợ chồng đều biên chế ở Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên với đồng lương bao cấp, cái ăn cái mặc cũng thành sự mệt mỏi thường nhật. Áo cơm túng bấn lấn át lãng mạn, lắm lúc khiến họ thấy ngột ngạt. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ an ủi chồng: “Chúng ta sống hòa vào nhau làm một/ Như đất kia cần có khí trời/ Như sông núi ruộng đồng chim lá/ Nếu anh sống vô tư cao cả/ Và vui tươi dũng cảm cần cù/ Sự già nua sẽ chẳng đến cùng ta/ Tâm hồn em mãi đẹp như buổi sớm”.

Dù nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường không phải người Huế gốc gác, nhưng họ chọn Huế làm quê hương và họ góp phần không nhỏ cho sự phong phú màu sắc văn hóa xứ Huế. Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành những nét chấm phá độc đáo của văn chương Cố đô. Tuy nhiên, thời gian gắn bó xứ Huế, cũng có hai giai đoạn vợ chồng họ chấp nhận sống xa nhau.

Giai đoạn thứ nhất, kéo dài 4 năm, từ 1979 đến 1983, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ ra Hà Nội học Trường Viết văn Nguyễn Du. Giai đoạn thứ hai, kéo dài 5 năm, từ 1989 đến năm 1994, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ra Quảng Trị để sáng lập và làm Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt. Đó là năm tháng mà tài năng của mỗi người đều chín muồi trong sự nghiệp, nhưng tình cảm cũng có những xáo trộn riêng tư. Nếu nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có những giây phút ngổn ngang “Giá mà ta được là sông/ Biết ra tới biển là không còn mình/ Bất cần ngàn sóng coi khinh/ Mặn mòi đã thấu, tan mình sá chi”, thì nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thảng thốt: “Buồn từ dạo ấy chưa nguôi/ Ngoài kia sương khói đã trời sang thu/ Ta còn một chút phù du/ Hóa thành một kiếp đền bù cho em”...

Hai con người mang hai cá tính sáng tạo, thường không dễ sống chung. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đằm thắm và mềm mại, còn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trầm tư và sâu sắc. Không phải đồng sàng dị mộng, nhưng hai con người quá hiểu nhau lại hiếm khi giải bày với nhau. Chính nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc bạch “Vẽ tôi một đóa bông hồng/ Tàn phai từ bữa em cầm trên tay/ Vẽ tôi một nét môi cười/ Một dòng nước mắt, một đời phù du”, nên ông luôn loay hoay trong sự trống vắng “Những chiều Bến Ngự giăng mưa/ Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi/ Tôi ra mở cửa đón người/ Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang”.

Hai đứa con gái Hoàng Dạ Thư và Hoàng Dạ Thi dần dần lớn lên và lập nghiệp phương xa. Vợ chồng Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp tục cuộc sống mỗi người một bàn viết, mỗi người một ngọn đèn, mỗi người một ước vọng, mỗi người một chân trời. Trong căn nhà ít tiếng nói tiếng cười ấy, hai tâm hồn cô độc lại học cách vỗ về nhau, bằng sự trân trọng dành cho nhau. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ viết: “Em biết những lời yêu còn ở trong anh/ Như ốc đảo xanh nằm trong sa mạc/ Nhưng trước em, anh lặng im như cát/ Chính điều này làm em yêu anh”.

tap tho tram nam.jpg -0
Tập thơ chung của vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường - Lâm Thị Mỹ Dạ.

Tất nhiên, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng cảm nhận đầy đủ ân tình từ phía vợ. Ngoài những khoảnh khắc rối bời “Em gọi tên tôi khắp mọi nơi/ Gọi tôi vang động cả vòm trời/ Tôi ngồi im vắng như lau sậy/ Mờ mịt như màu sương khói thôi”, ông công khai những lời tri ân hiền thê: “Xin biết ơn, trên bàn tay và gương mặt em/ Mỗi ngày lo toan vất vả/ Đất nước vẫn còn thời buổi khó/ Làm sao anh đỡ đần/ Cũng đôi khi bạn bè gặp gỡ/ Em rót cho anh ly rượu đầy/ Em cho anh một chiều thong thả/ Chỉ nhắc chừng anh say/ Không đâu em, trong ly rượu này/ Anh vẫn nghe vị chát những rễ cây dại/ Của ngọn cỏ hoang nào anh không biết tên/ Bạn bè anh đã ăn qua những năm đói/ Bao năm qua anh uống nước suối trong rừng/ Em đừng băn khoăn/ Nếu anh vẫn mang đôi giày cũ/ Đôi bít tất đã sờn/ Chắc em chưa quên/ Anh đã về tìm em/ Bằng đôi dép mòn nhảy qua núi đá/ Ngày ấy em cười anh gầy như mũi tên”.

Năm 1998, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bất ngờ bị tai biến. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ bỏ hết mọi đam mê thi ca để chăm sóc chồng. Trước cú đánh choáng váng của số phận, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trở nên cứng cỏi hơn: “Bàn tay nâng em thành bảo mẫu/ Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười/ Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng/ Giữa tháng ngày trĩu nặng/ Em đứng thẳng người/ Cho anh tựa vào em”. Nghe ở đâu có thuốc hay thầy giỏi thì bà đều nỗ lực đưa ông đi chữa trị, lúc lên rẻo cao Tây Bắc, lúc xuống miệt vườn Nam Bộ. Nhờ sự nhẫn nại và sự tận tụy của vợ, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thoát khỏi lưỡi hái tử thần, để gắng gượng ngồi viết trên chiếc xe lăn.

Những trang văn sau cơn đột quỵ của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lấp lánh lòng bao dung của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, như cách bà buông bỏ hết mọi ràng buộc danh lợi để còn có ông bên cạnh: “Thả trăng cho rằm/ Thả mây cho gió/ Thả xanh cho cỏ/ Tôi về với tôi/ Thả người thục nữ/ Hồn nhiên nói cười/ Thả người tục lụy/ Danh vọng đua đòi/ Thả hết thả hết/ Tôi về với tôi…/ Đời bao phúc họa/ Gieo, gặt bất ngờ/ Mỏi không thể nghỉ/ Đau không thể kêu/ Người im như bóng/ Tôi về với tôi…/Thả chùm tóc bạc/ Trắng cả ngàn năm”.

Sau gần 20 năm lo lắng cho chồng, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ mắc bệnh Alzheimer. Trí nhớ suy giảm, bà lãng quên từng sự việc mỗi ngày, lãng quên cả những câu thơ khắc khoải “Mịt mù trong khoảng bể dâu/ Tuổi người một chấm biết đâu kiếm tìm/ Chỉ còn đây một trái tim/ Trẻ trung nồng ấm của mình cho ta”.

Ngày 7/6/2023, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vẫy tay chào từ biệt dương gian. Hơn một tháng sau, ngày 24/7/2023, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng khép lại đôi mắt trần thế, để bay về cõi hư vô với người vợ thi sĩ tài hoa, yếu đuối và nhọc nhằn. Ơn nghĩa tào khang nửa thế kỷ của họ còn ngọt ngào dư vị trong câu thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường vang vọng: “Dù năm dù tháng em ơi/ Tim anh chỉ đập một đời/ Nhưng trái tim mang vĩnh cửu/ Trong từng giọt máu đỏ tươi”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.